Giáo trình Visual Basic (VB6)

(Sưu tầm)

MỤC LỤC

Chương Một:  Hoan nghênh đến với VB6
Chương Hai:   Viết chương trình đầu tiên
Chương Ba:    Form và các Controls thông thường
Chương Bốn:   Viết Code
Chương Năm:  Các loại dữ kiện
Chương Sáu:  Dùng dữ kiện
Chương Bảy:  Dùng List Controls
Chương Tám:  Tự tạo Object
Chương Chín:  Debug
Chương Mười: Dùng Menu
Chương Mười Một:  Dùng Dialogs
Chương Mười Hai:  Dùng Đồ Họa (Phần I)
Chương Mười Hai:  Dùng Đồ Họa (Phần II)
Chương Mười Hai:  Dùng Đồ Họa (Phần III)
Chương Mười Ba:   Cơ sở dữ liệu (Database)
Chương Mười Bốn:  Dùng Control Data
Chương Mười Lăm:  Lập trình với kỹ thuật DAO
Chương Mười Sáu:   Lập trình với ADO (phần I)

Chương Một – Hoan nghênh đến với VB6

Chào mừng bạn đến với Visual Basic 6

Dùng VB6 là cách nhanh và tốt nhất để lập trình cho Microsoft Windows. Cho dù bạn là chuyên nghiệp hay mới mẻ đối với chương trình Windows, VB6 sẽ cung cấp cho bạn một bộ công cụ hoàn chỉnh để đơn giản hóa việc triển khai lập trình ứng dụng cho MSWindows.

Visual Basic là gì? Phần “Visual” đề cập đến phương phàp được sử dụng để tạo giao diện đồ họa người dùng (Graphical User Interface hay viết tắc là GUI) . Có sẵn những bộ phận hình ảnh, gọi là controls, bạn tha hồ sắp đặt vị trí và quyết định các đặc tính của chúng trên một khung màn hình, gọi là form. Nếu bạn đã từng sử dụng chương trình vẽ chẳng hạn như Paint, bạn đã có sẵn các kỹ năng cần thiết để tạo một GUI cho VB6.
Phần “Basic” đề cập đến ngôn ngữ BASIC (Beginners All-Purpose Symbolic Instruction Code), một ngôn ngữ lập trình đơn giản, dễ học, được chế ra cho các khoa học gia (những người không có thì giờ để học lập trình điện toán) dùng.
Visual Basic đã được ra từ MSBasic, do Bill Gates viết từ thời dùng cho máy tính 8 bits 8080 hay Z80. Hiện nay nó chứa đến hàng trăm câu lệnh (commands), hàm (functions) và từ khóa (keywords). Rất nhiều commands, functions liên hệ trực tiếp đến MSWindows GUI. Những người mới bắt đầu có thể viết chương trình bằng cách học chỉ một vài commands, functions và keywords. Khả năng của ngôn ngữ này cho phép những người chuyên nghiệp hoàn thành bất kỳ điều gì nhờ sử dụng ngôn ngữ lập trình MSWindows nào khác.
Người mang lại phần “Visual” cho VB là ông Alan Cooper. Ông đã gói môi trường hoạt động của Basic trong một phạm vi dễ hiểu, dễ dùng, không cần phải chú ý đến sự tinh xảo của MSWindows, nhưng vẫn dùng các chức năng của MSWindows một cách hiệu quả. Do đó, nhiều người xem ông Alan Cooper là cha già của Visual Basic.
Visual Basic còn có hai dạng khác: Visual Basic for Application (VBA)VBScript. VBA là ngôn ngữ nằm phía sau các chương trình Word, Excel, MSAccess, MSProject, .v.v.. còn gọi là Macros. Dùng VBA trong MSOffice, ta có thể làm tăng chức năng bằng cách tự động hóa các chương trình.
VBScript được dùng cho Internet và chính Operating System.
Dù cho mục đích của bạn là tạo một tiện ích nhỏ cho riêng bạn, trong một nhóm làm việc của bạn, trong một công ty lớn, hay cần phân bố chương trình ứng dụng rộng rãi trên thế giới qua Internet, VB6 cũng sẽ có các công cụ lập trình mà bạn cần thiết.

Các ấn bản Visual Basic 6

Có ba ấn bản VB6: Learning, Professional và Enterprise. Chúng ta hãy gát qua ấn bản Learning. Bạn có thể dùng ấn bản Professional hay Enterprise.
Ấn bản Professional cung cấp đầy đủ những gì bạn cần để học và triển khai một chương trình VB6, nhất là các control ActiveX, những bộ phận lập trình tiền chế và rất hữu dụng cho các chương trình ứng dụng (application programs) của bạn trong tương lai. Ngoài đĩa compact chính cho VB6, tài liệu đính kèm gồm có sách Visual Studio Professional Features và hai đĩa CD Microsoft Developer Network (MSDN).
Ấn bản Enterprise là ấn bản Professional cộng thêm các công cụ Back Office chẳng hạn như SQL Server, Microsoft Transaction Server, Internet Information Server.

Cài đặt VB6

Để cài đặt VB6, máy tính của bạn cần phải có một ổ đĩa CD-ROM (CD drive) . Bạn cần ít nhất 32 MB RAM, 2 GB hard disk và CPU Pentium II. Khi bỏ VB6 CD vào CD drive, nó sẽ tự khởi động để display menu cho bạn chọn những thứ gì cần Setup, hãy click Install Visual Basic 6.0 để cài VB6. Ngoại trừ các file hệ điều hành (Operating System) trong thư mục (folder) \Os, các file trong đĩa compact đều không bị nén. Vì thế, bạn có thể sử dụng chúng trực tiếp từ đĩa. Ví dụ, có nhiều công cụ và thành phần trong folder \Tools vốn có thể được cài đặt trực tiếp từ CD-ROM.
Ngoài ra, bạn có thể chạy Setup khi nào cần thiết. Ví dụ, bạn có thể chạy Setup để cài đặt lại Visual Basic trong folder khác, hoặc để cài đặt thêm bớt các phần của VB6.
Nếu vì lý do gì hệ thống không install các đĩa compact MSDN (bạn sẽ khám phá ra điều nầy khi thấy Help không có mặt lúc chạy VB6), bạn có thể cài đặt chúng trực tiếp từ đĩa số 1 của bộ MSDN.

Để bổ xung và xóa các thành phần VB:

  1. Bỏ đĩa compact vào CD drive.

  2. Nếu menu không tự động hiện lên thì chạy chương trình Setup có sẵn tong folder gốc trên đĩa compact.

  3. Chọn nút Custom trong hộp thoại (dialog) Microsoft Visual Basic 6.0 Setup.

  4. Chọn hay xóa các thành phần bằng cách check hay uncheck các hộp danh sách Options của dialog Custom.

  5. Thực hiện các chỉ dẫn Setup trên màn hình.

Ghi chú: Trong lúc cài VB6, nhớ chọn Graphics nếu không bạn sẽ thiếu một số hình ảnh như icons, bitmaps v.v… Đáng lẽ Microsoft cho tự động cài đặt Graphics, tức là Default (không có nói gì) thì cài đặt Graphics.

Integrated Development Environment (IDE) của VB6

Khi khởi động VB6 bạn sẽ thấy mở ra nhiều cửa sổ (windows), scrollbars, v.v.. và nằm chồng lên là New Project dialog. Ở đây VB6 cho bạn chọn một trong nhiều loại công trình.

Chọn Standard EXE. Một lát sau trên màn ảnh sẽ hiện ra giao diện của môi trường phát triển tích hợp (Integrated Development Environment – IDE ) giống như dưới đây:

IDE của VB6 bao gồm các yếu tố sau:

Menu Bar

Chứa đầy đủ các commands mà bạn sử dụng để làm việc với VB6, kể cả các menu để truy cập các chức năng đặc biệt dành cho việc lập trình chẳng hạn như Project, Format, hoặc Debug. Trong Menu Add-Ins có Add-Ins Manager cho phép bạn gắn thêm những menu con nhiệm ý để chạy các chương trình lợi ích cho việc lập trình.

Trong Add-Ins Manager dialog bạn chọn một Add-In rồi check một hay nhiều hộp trong khung Load behavior:

Toolbars (Debug, Edit, form Editor, Standard)

Các toolbars có hình các icons cho phép bạn click để thực hiện công việc tương đương với dùng một menu command, nhưng nhanh và tiện hơn. Bạn dùng menu command View | Toolbars (click lên menu command View cho popupmenu hiện ra rồi click command con Toolbars) để làm cho các toolbars hiện ra hay biến mất đi. Bạn có thể thay đổi vị trí một toolbar bằng cách nắm vào hai gạch vertical nằm bên trái toolbar rồi dời toolbar đi chỗ khác (nắm ở đây nghĩa là để pointer của mouse lên chỗ chấm đỏ trong hình phía dưới rồi bấm xuống và giữ nút bên trái của mouse, trong khi kéo pointer đi nơi khác).


Ngoài ra bạn cũng có thể sửa đổi các toolbars theo ý thích bằng cách dùng Menu command View | Toolbars | Customize…

Toolbox

Đây là hộp đồ nghề với các công cụ, gọi là controls, mà bạn có thể đặt lên các form trong lúc thiết kế (design). Nếu Toolbox biến mất, bạn có thể display nó trở lại bằng cách dùng menu command View | Toolbox. Bạn có thể khiến toolbox display nhiều controls hơn bằng cách chọn Components… từ context menu (chọn Toolbox rồi bấm nút phải của mouse để display context menu) hay dùng menu command Project | Components. Ngoài việc trình bày Toolbox mặc định, bạn có thể tạo cách trình bày khác bằng cách chọn Add Tab… từ context menu và bổ sung các control cho tab từ kết quả.

Project Explorer

Sẽ liệt kê các forms và các modules trong project hiện hành của bạn. Một project là sự tập hợp các files mà bạn sử dụng để tạo một trình ứng dụng. Tức là, trong VB6, khi nói viết một program có nghĩa là triển khai một project.

Properties window

Liệt kê các đặc tính của các forms hoặc controls được chọn. Một property là một đặc tính của một object chẳng hạn như size, caption, hoặc color. Khi bạn sửa đổi một property bạn sẽ thấy hiệu quả ngay lập tức, thí dụ thay đổi property Font của một Label sẽ thấy Label ấy được display bằng Font chữ mới. Khi bạn chọn một Property của control hay form trong Properties window, phía bên phải ở chỗ value của property có thể display ba chấm (. . .) hay một tam giác chỉa xuống. Bấm vào đó để display một dialog cho bạn chọn value. Thí dụ dưới đây là dialog để chọn màu cho property ForeColor của control Label1.

Form Layout

Bạn dùng form Layout để chỉnh vị trí của các forms khi form hiện ra lần đầu lúc chương trình chạy. Dùng context command Resolution Guides để thấy nếu dùng một màn ảnh với độ mịn (resolution) tệ hơn, thí dụ như 640 X 480, thì nó sẽ nhỏ như thế nào.

Form Designer

Dùng để thiết kế giao diện lập trình. Bạn bổ sung các controls, các đồ họa (graphics), các hình ảnh và một form để tạo sự ma sát mà bạn muốn. Mỗi form trong trình ứng dụng của bạn có designer form riêng của nó. Khi bạn maximise một form designer, nó chiếm cả khu làm việc. Muốn làm cho nó trở lại cở bình thường và đồng thời để thấy các form designers khác, click nút Restore Window ở góc bên phải, phía trên.

Immediate Window

Dùng để gở rối (debug) trình ứng dụng của bạn. Bạn có thể display dữ kiện trong khi chạy chương trình ứng dụng. Khi chương trình đang tạm ngừng ở một break point, bạn có thể thay đổi giá trị các variables hay chạy một dòng chương trình.

View Code button

Click lên nút nầy để xem code của một form mà bạn đã chọn. Window của code giống như dưới đây:

Trong Code window bạn có thể chọn display tất cả Sub của code cùng một lúc như trong hình hay display mỗi lần chỉ một Sub bằng cách click button có hình ba dòng nằm ở góc bên trái phía dưới.

View form button

Click lên nút nầy để xem form của một form mà bạn đã chọn.

Ghi chú: Nhiều windows trong IDE như Toolbars, Toolbox, Project Explorer .v.v..có thể trôi lình bình (floating) hay đậu ở bến (docked). Bạn có thể thay đổi vị trí chúng bằng cách nắm vào Title Bar của window rồi dời đi. Dĩ nhiên bạn cũng có thể mở rộng hay làm nhỏ một window bằng cách dời một cạnh vertical hay horizontal của nó. Khi để một window lên trên một window khác chúng có thể tìm cách dính nhau.
Trong hình dưới đây, Properties Window và Form Layout đã được kéo ra ngoài cho floating.

Nhận trợ giúp trong khi đang làm việc

Trong khi lập trình bạn có thể cần tìm hiểu các thông tin liên quan đến các commands, functions .v.v.. của VB6. Bạn có thể khởi động Microsoft Developer Network | MSDN Library Visual Studio 6.0 từ nút Start, hay click Help | Contents từ Menu Bar của VB6, hay chọn một keyword (highlight keyword) rồi ấn F1 để đọc Help.


Nội dung Help bao gồm nhiều đặc điểm được thiết kế để thực hiện việc tìm kiếm thông tin dễ dàng hơn. Bạn có thể dựa trên Contents để đọc tài liệu như một quyễn sách, Index để đọc những đoạn có nhắc đến một keyword hay Search để tìm một tài liệu nhanh hơn. Ví dụ, việc gở rối thông tin bắt nguồn từ nhiều đặc tính khác nhau phụ thuộc vào loại đề án mà bạn đang làm việc. Các liên kết được mô tả trong phần nầy thực hiện việc tìm kiếm dễ dàng hơn.
Ngoài ra, bạn cũng có thể click See Also dưới tiêu đề của chủ điểm để xem các tiêu đề của các chủ điểm mà bạn có thể đi đến hoặc liên hệ đến nhiều thông tin.

Context Sensitive Help (trợ giúp trong đúng tình huống)

Nhiều phần của VB6 là context sensitive, có nghĩa là lúc bối rối chỉ cần ấn nút F1 hoặc highlight keyword rồi nhấn F1 là được thông tin những gì liên hệ trực tiếp với tình huống hiện giờ của bạn.
Bạn có thể nhấn F1 từ bất kỳ phần context sensitive nào của giao diện VB6 để display thông tin Help về phần đó. Các phần context sensitive là:

  • Các Windows của VB6 như Properties, Code .v.v..

  • Các control trong Toolbox.

  • Các Object trên một form hoặc Object tài liệu.

  • Các đặc tính trong Window Properties.

  • Các keywords của VB6

  • Các thông báo lỗi (error messages)

Ngoài ra, trong Help thường có Example. Bạn click lên chữ Example để display một thí dụ minh họa cách dùng một function hay property.

Microsoft on the Web

Web site của Microsoft chứa nhiều thông tin cập nhật cho những người lập trình VB6. Trang chủ Visual Basic đặt tại URL http://www.microsoft.com/vbasic/. Thông tin có sẵn tại địa chỉ nầy bao gồm:

  • Cập nhật các đặc tính mới, các phiên bản sản phẩm, các sản phẩm liên hệ, các thuyết trình (seminar) và các hoạt động (event) đặc biệt.

  • Thông tin bổ sung trên các đặc tính VB6 chứa trong các bài viết gọi là White Papers, các mách nước (tips) và các trình trợ giáo, nguồn đào tạo.

  • Sản phẩm mới tải xuống (download) bao gồm sự cập nhật đến các file chương trình, các cập nhật trợ giúp, các trình điều khiển, và các file liên hệ khác của VB6.

Để truy cập Web site của Microsoft, từ menu Help chọn Microsoft on the Web rồi chọn menu con tùy thích như dưới đây.

Ghi chú: Một số nội dung trên Web site của Microsoft được tối ưu hóa dành cho Microsoft Internet Explorer và không thể display đầy đủ trong một bộ trình duyệt (browser) khác. Do đó bạn nên chỉ dùng Internet Explorer làm browser trên máy bạn mà thôi.

Chương Hai- Viết chương trình đầu tiên

Bạn đang làm quen với môi trường triển khai lập trình (Integrated Development Environment – IDE) của MS VB6 và rất nóng ruột muốn viết những dòng mã đầu tiên để chào mừng thế giới.

Ta thử ôn lại một số vấn đề mà có lẽ bạn đã biết rồi. Một chương trình Visual Basic gồm có phần mã lập trình và các hình ảnh (visual components). Bạn có thể thiết kế phần hình ảnh bằng cách dùng những đồ nghề (Controls hay Objects) từ Túi đồ nghề (Toolbox) nằm bên trái. Nếu bạn không thấy cái Túi đồ nghề thì dùng mệnh lệnh Menu View|Toolbox để bắt nó hiện ra.

Khi bạn bắt đầu thiết kế một chương trình bằng cách chọn Standard EXE, môi trường triển khai lập trình (IDE) cho bạn sẵn một Form tên là Form1. Bạn có thể đổi tên (Name) nó trong cái cửa sổ Propeties nằm phía dưới bên phải (trong hình dưới đây ta edit Name property của Form1 thành ra frmMainForm). Bạn cũng có thể sửa đề tựa (Title) của form ra cái gì có ý nghĩa hơn bằng cách đổi Caption của form cũng trong cửa sổ Propeties (trong hình dưới đây ta edit Caption property của form thành ra “Chi tiet cua ban toi”).

Muốn đặt một Control lên Form, click hình cái Control trong Toolbox rồi Drag (bấm nút trái của con chuột rồi kéo cho thành hình chữ nhật trước khi buông nút trái ra) con chuột trên Form vẽ thành cở của Control. Những Controls bạn sẽ dùng thường nhất từ Toolbox là Label (nhãn), Textbox (hộp để đánh chữ vào) và CommandButton (nút bấm mệnh lệnh).

Trong hình trên ta có ba Label và ba Textbox. Muốn sửa chữ Label1 ra “Ten” thì edit Property Caption. Còn Textbox không dùng Property Caption mà dùng Property Text. Ta cũng có thể thay đổi các Property Caption và Text trong khi chạy chương trình (at run-time). Trong lúc thiết kế (design time) bạn có thể sửa đổi kiểu chữ của những Controls bằng cách edit Property Font của chúng trong cửa sổ Properties (click bên phải của Property Font trong Properties Window, IDE sẽ pop-up cái Font dialog để bạn lựa chọn những đặc tính của Font như trong hình dưới đây). 

 



Nếu bạn thấy bực mình tại sao cái cở chữ tự có (default size) của các Control hơi nhỏ, bạn có thể giải quyết bằng cách sửa cở chữ của chính Form cho nó lớn hơn. Vì khi một Control được đặt lên một Form, nó thừa kế cở chử của Form.
Để sắp xếp cho một số Control thẳng hàng với nhau bạn chọn cả nhóm rồi dùng mệnh lệnh Menu Format|Align|Lefts .v.v..Nếu bạn chưa biết cách chọn một nhóm Control thì có hai cách. Cách thứ nhất bạn đè nút Shift trong khi click các Control bạn muốn chọn. Cái Control mà bạn chọn sau cùng sẽ là cái chuẩn để các Control khác sẽ làm giống theo. Cách thứ hai là Drag cho sợi dây thun (rubber band) bọc chung quanh các Control. Trong trường hợp các Control nầy nằm trong một container, thí dụ như một khung (Frame) hay PictureBox, thì bạn phải click Form trước, rồi đè nút Ctrl trong khi Drag rubber band bao các Control.

Chứa mọi thứ của một dự án VB

Tới đây bạn để ý thấy trong cửa sổ bên phải, phía trên, gọi là Project Explorer, có hình giống như một cái cây (tree) cho thấy ta có một Form trong một Project (dự án). Project là một cách tiện dụng để ta sắp xếp những gì cần thiết cho một dự án. Thường thì một dự án có nhiều Form và có thể cần những thứ khác.
Mỗi Form sẽ được chứa vào đĩa dưới dạng “frmMainForm.frm“. Bạn save một form bằng menu command File | Save formfilename.frm. Nếu trong Form1 có chứa hình ảnh (thí dụ bạn dùng  Properties Window để chọn một icon hình gương mặt cười làm icon cho frmMainForm) thì các hình ảnh của frmMainForm sẽ đuợc tự động chứa trong hồ sơ “frmMainForm.frx“. Lưu ý là không nhất thiết tên của hồ sơ (file) mà bạn phải cho biết khi chứa (save) phải giống như tên của Form mà bạn dùng trong chương trình. Tuy nhiên bạn nên dùng cùng một tên cho cả hai để sau nầy dễ tìm hồ sơ nếu có thất lạc. Theo qui ước thông thường, các Form được đặt tên bắt đầu bằng “frm“, thí dụ như “frmMainForm”.
Khi bạn save một Project thì có nghĩa là save tất cả hồ sơ dùng cho dự án, kể cả các Form và một hồ sơ cho chính Project, thí dụ như “MyFirstProg.vbp” (“vbp” là viết tắt chữ Visual Basic Project). Bạn save Vb6 project bằng menu command File | Save Project.  À, muốn đổi tên Project, bạn click lên hàng trên cùng bên phải trong cửa sổ Project Explorer (Project1 (Project1.vbp)), rồi edit tên của Project trong cửa sổ Properties phía dưới. Bạn nên chứa tất cả những hồ sơ dùng cho cùng một Project trong cùng một tập (Folder/Directory).
Bạn có thể dùng Notepad để mở ra xem chơi, coi trong “frmMainForm.frm” có gì. Bạn sẽ thấy trong ấy gồm có hai phần: phần đầu là diễn tả các Control nằm trong Form, phần còn lại là mã lập trình mà bạn viết. Bạn cũng sẽ chú ý là các properties mà bạn đã sửa cho các Control đều được ghi lại trong phần đầu nói trên. VB dựa vào phần diễn tả các Control để thiết lập lại (reconstruct) hình ảnh của Form.

            
Sau nầy, khi đã lão luyện VB, bạn có thể dùng một chương trình tự động chế (generate) ra những hàng diễn tả các Control cho một Form.
Đó là kỹ thuật dùng trong các Wizards của VB để chế một số chương trình khởi đầu cho chúng ta từ các bảng kẻm (Template).

Thêm mã lập trình để xử lý một sự cố

Hầu hết lập trình trong Visual Basic là viết mã để xử lý các sự cố (Event). Thí dụ muốn chấm dứt chương trình, người sử dụng sẽ click nút “Xuat”. Để thực hiện điều nầy trong khi triển khai chương trình bạn doubleClick (click liên tiếp 2 lần) nút “Xuat”. VB IDE sẽ viết sẵn cho bạn cái vỏ của một Subroutine:

Private Sub cmdXuat_Click()
End     ' Bạn chỉ viết thêm dòng nầy để kết thúc chương trình
End Sub

Để ý là tên (Name) của nút Xuat là “cmdXuat” (“cmd” là viết tắt chữ CommandButton), VB gắn thêm dấu gạch dưới và Event Click để làm thành tên cmdXuat_Click của Sub, chương trình nhỏ sẽ được xử lý khi người sử dụng click nút Xuat. Chương trình nhỏ hay Subroutine nầy còn được gọi là Event Handler cho Event Click. Hàng chữ xanh lá cây là dùng để giải thích cho lập trình viên (gọi là Comment), VB sẽ hoàn toàn không chú ý đến nó khi xử lý Sub cmdXuat_Click.
Comment có nghĩa là chú thích. Trong VB chú thích bắt đầu bằng dấu single quote . Khi VB thấy dấu nầy là nó bỏ qua những gì còn lại trên dòng mã.
Là Lập trình viên chuyên nghiệp bạn nên tập thói quen dùng Comment mọi nơi để giúp người khác và chính bạn hiểu chương trình của mình. Nên nhớ là tiền phí tổn để bảo trì một chương trình thì ít nhất là tương đương với số tiền bỏ ra lần đầu để triển khai. Bảo trì có nghĩa là thăm viếng lại chương trình để sửa lỗi (fix bug) và thêm các đặc điểm cho hay hơn (enhancement).
Nói chung hể bạn làm điều gì bí hiểm hay cắc cớ thì làm ơn giải thích rõ ràng.
Nếu muốn cắt một dòng mã VB ra làm hai dòng thì chấm dứt dòng thứ nhất bằng dấu gạch dưới _.
Tiếp theo, bạn doubleClick nút “Viet vao dia” và viết những hàng mã sau:

Private Sub cmdViet_Click()
Open "myFriends.txt" For Output As #2 ' Mở một hồ sơ để viết ra và gọi là cổng số 2
' Viết vào cổng số 2: Tên, Địa chỉ và Tuổi, ngăn   cách nhau bằng dấu chấm phẩy
Print #2, txtTen & ";" & txtDiachi & ";" & txtTuoi
Close #2 ' Đóng cổng số 2
End Sub

Trong Sub cmdViet_Click, trước hết ta mở một hồ sơ tên là “myFriends.txt” và gọi nó là cổng số 2. Sau khi mở hồ sơ để viết ra ta ráp Tên, Địa chỉ và Tuổi lại, ngăn cách bằng dấu chấm phẩy (;) để đánh dấu nhỡ sau nầy ta muốn gở riêng ba thứ ra trở lại. Dấu “&” là operator để ráp (concatenate) hai dòng chữ (text string) lại với nhau.
Print #2 có nghĩa là viết ra cổng số 2, tức là hồ sơ “myFriends.txt”.
Thứ chúng ta viết ra cổng 2 là Tên, Địa chỉ và Tuổi (txtTen & “;” & txtDiachi & “;” & txtTuoi).

Những rắc rối của việc mở một hồ sơ

Cái cổng số 2 ở trên là ta tự chọn (arbitrary). Thật ra muốn gọi cổng số mấy cũng được, miễn là chưa có phần nào khác trong cùng chương trình nầy đang dùng cổng số ấy. Đây là một cách VB làm việc cho tiện thay vì gọi nguyên một cái tên hồ sơ dài.
Nếu muốn chắc chắn không trùng số cổng với chỗ nào khác, ta có thể làm như sau:

   fileNo = freefile

Rồi thay thế số 2 bằng chữ fileNo trong Sub cmdViet_Click. freeFile là một Function (chương trình nhỏ dùng để tính ra một thứ gì) nhờ VB cấp phát cho một con số đại diện hồ sơ chưa ai dùng.
Chữ Output trong câu (
Open "myFriends.txt" For Output As #2 ) dùng ở đây để nói từ CPU (Central Processing Unit) ta muốn “viết ra” một hồ sơ. Khi mở một hồ sơ để viết ra kiểu nầy thì nếu hồ sơ chưa có nó sẽ được dựng nên (created). Nếu hồ sơ đã có rồi thì nó sẽ bị xoá bỏ (delete) và đồng thời một hồ sơ trống và mới sẽ được dựng nên. Động từ chuyên môn là “viết chồng lên” (overwrite).
Nếu ta mở một hồ sơ để “đọc vào” thì dùng chữ “Input” thay vì “Output“. Còn nếu “viết thêm” vào một hồ sơ có sẵn (chớ không overwrite hồ sơ ấy) thì dùng chữ “Append” thay vì “Output”. Trong trường hợp ấy bạn phải kiểm xem hồ sơ “myFriends.txt” đã có sẵn chưa. Bạn có thể viết như sau:

If Dir("myFriends.txt") <> "" then ' Nếu hồ sơ "myFriends.txt" hiện hữu
Open "myFriends.txt" For Append As #2 ' Mở một hồ sơ để viết thêm và gọi là cổng số 2
Else
Open "myFriends.txt" For Output As #2 ' Mở một hồ sơ để viết ra và gọi là cổng số 2
End If

Function Dir(“myFriends.txt”) dùng ở trên sẽ cho ta tên của hồ sơ nếu hồ sơ hiện hữu, ngược lại nó sẽ cho một dòng chữ trống (empty string), biểu hiệu là “”. Tại đây, nếu lanh ý bạn sẽ hỏi hồ sơ “myFriends.txt” nằm ở folder nào. Câu trả lời là không biết chắc. Nếu bạn chưa chứa (save) chương trình vào dĩa (vì mới viết) thì nó nằm ở folder của VB6.EXE. Còn như đã chứa chương trình rồi thì có lẽ nó nằm ở folder của chương trình bạn. Muốn hồ sơ “myFriends.txt” luôn luôn đi cùng với chương trình, bạn có thể làm như sau:

   MyLocalFolder = App.path ' Lấy folder của chương trình xử lý của bạn
If Right(MyLocalFolder,1) <> "\" then ' Nếu chữ cuối cùng không phải là backslash
MyLocalFolder = MyLocalFolder & "\" ' thì gắn thêm một backslash ở cuối
End If
' Mở một hồ sơ với tên có folder (full pathname) để viết ra và gọi là cổng số 2
Open MyLocalFolder & "myFriends.txt" For Output As #2

Cuối cùng ta đóng hồ sơ lại bằng câu Close #2.. Từ rày VB có thể cấp số 2 để làm cổng cho chỗ khác trong chương trình.

Default Property của một Control

“txtTen” được dùng ở đây là viết tắt cho “txtTen.text”, vì Default Property của một TextBox là text của nó. Default Property của một Control là Property được VB dùng khi bạn chỉ cho tên của Control mà thôi.
Trong khi đó Default Property của Label là Caption.
Vì txtTen được dùng như txtTen.txt để nói đến một dòng chữ, nên trong chương trình ta nhắc đến nó y như một variable (mã số) dùng cho một string. Do đó với qui ước dùng ba chữ đầu “txt” cho tên của một Textbox giúp ta nhận diện ngay nó không phải là một string variable bình thường. Hãy lưu ý sự khác biệt khi gọi một Sub trong hai trường hợp sau:

   Call CheckmyTextbox  (txtDiachi) ' txtDiachi được xem là Textbox trọn vẹn
CheckmyTextbox  txtDiachi ' txtDiachi được xem là txtDiachi.text, một  dòng chữ

Thứ tự các Control trên một Form

Trong chương trình nầy ta muốn người xử dụng cho vào dữ kiện theo thứ tự “Tên, Địa chỉ, Tuổi”. Khi mới vào, ta muốn cái dấu chớp tắt (cursor ) nằm trong txtTen ngay để người xử dụng khỏi mất công click vào Textbox ấy khi muốn mang cursor trở lại đó. Ta nói là txtTen có cái Focus.
Sau khi người xử dụng đã cho tên vào rồi, cô sẽ đánh nút Tab để di chuyển cursor qua Control tiếp theo, mà ta muốn là txtDiachi. Để sắp thứ tự các Control cho sự di chuyển của cursor khi người xử dụng đánh nút Tab ta edit Property TabIndex của các Control. TabIndex bắt đầu bằng số 0. Nhiều khi người xử dụng thích dùng nút Enter thay vì Tab để di chuyển Cursor qua Control tiếp theo, bạn có thể làm như sau cho Textbox txtTen:

Private Sub txtTen_KeyPress(KeyAscii As Integer)
If KeyAscii = 13 Then ' Nếu nút bấm là Enter
SendKeys "{TAB}" ' giả mạo gởi nút Tab
KeyAscii = 0 ' Nuốt trọng nút Enter để Windows không còn lo cho nó
End If
End Sub

Cho các Textbox khác như txtDiachi, txtTuoi bạn cũng làm tương tợ như vậy. Khi bạn doubleClick txtTen lần đầu để viết mã, VB cho bạn Private Sub txtTen_Change(). Bạn phải click cái Combobox bên phải, phía trên của Code Window, cho nó mở ra và chọn Event KeyPress.

Nếu bạn muốn chương trình mình còn chuyên nghiệp hơn, bạn cho phép người xử dụng bấm nút Alt+o (bấm nút Alt xuống trong khi bấm nút o) để mang Cursor về txtTuoi hay Alt+d để mang Cursor về txtDiachi. Muốn thế bạn phải thêm vào dấu “&” ở phía trước các chữ T, Do trong Caption của các label lblTen, lblDiachi và lblTuoi.
Kế đó bạn phải cho giá trị TabIndex của lblTen, txtTen, lblDiachi, txtDiachi, lblTuoi, txtTuoi liên tiếp là 0,1,2,3,4,5. Khi người xử dụng đánh Alt+o, VB sẽ mang Cursor về nhãn lblTuoi, nhưng vì không có chỗ cho nó đáp trong label nên nó phải đáp vào Control kế đó, tức là txtTuoi.

Khi ta đã cho TabIndex của các Control những giá trị kể trên thì khi Form hiện ra Cursor sẽ nằm trong TextBox txtTen vì mặc dầu lblTen có TabIndex nhỏ nhất(0), nó không phải là chỗ Cursor đáp lên được, nên Cursor phải đáp lên textbox có TabIndex value kế đó, tức là 1.

Nếu bạn không muốn Cursor ngừng lại ở một TextBox nào thì edit Property TabStop của TextBox đó cho bằng False. Trong trường hợp ấy người sử dụng vẫn có thể click vào TextBox và sửa dòng chữ ở đó được như thường. Nếu bạn thật sự không muốn cho phép người sử dụng sửa gì ở TextBox thì edit Property Enabled bằng False hay Property Locked bằng True. Khi Enabled của một TextBox bằng False thì TextBox trở nên mờ đi.
Nhân tiện ta edit thêm dấu “&” ở phía trước các chữ X và V trong Caption các CommandButton “Xuat” và “Viet vao dia”. Sau nầy người sử dụng có thể bấm Alt-X coi như tương đương với click nút “Xuat”.
Nếu nhỡ trong Form bạn có nhiều Textbox quá, đổi nút Enter ra nút Tab cho từng Textbox một thì mất công quá. Bạn có thể làm một cái chung cho cả Form. Tức là nói rằng bạn không cần biết nút Enter vừa mới được đánh ở TextBox nào, bạn cứ nhắm mắt đổi nó ra nút Tab.
Trước hết bạn phải chọn (select) Form rồi edit Property KeyPreview của nó thành True. Bạn làm việc nầy để dặn Form giựt cái nút người sử dụng đánh (keystroke) trước khi TextBox thấy. Form sẽ tráo nút Enter thành Tab rồi lẵng lặng trao cho TextBox. Bạn có thể thay thế tất cả các KeyPress event handler của các TextBox bằng đoạn mã như sau:

Private Sub Form_KeyPress(KeyAscii As Integer)
If KeyAscii = 13 Then ' Nếu nút bấm là Enter
SendKeys "{TAB}" ' giả mạo gởi nút Tab
KeyAscii = 0 ' Nuốt trọng nút Enter để Windows không còn lo cho nó
End If
End Sub

Khi bạn doubleClick lên bất cứ chỗ nào trên Form không có Control nằm, lần đầu để viết mã, VB cho bạn Private Sub Form_Load(). Bạn phải click cái Combobox bên phải, phía trên của Code Window, cho nó mở ra và chọn Event KeyPress.

Đem ra trình làng

Để làm thành một hồ sơ áp dụng EXE, bạn dùng mệnh lệnh Menu File|Make MyFirstProg.exe. Cho thêm chút hương vị của cuộc đời tôi click Form rồi edit Property Icon, chọn cho nó từ folder:

D:\Program Files\Microsoft Visual Studio\Common\Graphics\Icons\Misc

một icon hình gương mặt cười. Rồi bấm mệnh lệnh Menu File|Save Project.
Khi dùng Explorer để xem các hồ sơ của MyFirstProg.vbp bạn sẽ thấy như dưới đây:


Đáng lẽ tôi dùng một folder khác thay vì VB98 để chứa dự án MyFirstProg.vbp. Hồ sơ MyFirstProg.vbw là Workspace (chỗ làm việc) dành cho VB, ta không nên động tới.
Bạn có thể làm một Shortcut cho MyFirstProg.exe với cái icon hình gương mặt cười đặt lên Desktop để chạy bên ngoài IDE của VB.
Có lẽ bạn muốn Download hồ sơ:MyFirstProg.zip, nén chung tất cả các hồ sơ nói trên trong dự án MyFirstProg.vbp.
Bây giờ ngay trong VB IDE bạn có thể chạy chương trình bằng cách dùng mệnh lệnh Menu Run|Start hay bấm F5

Bạn cũng có thể Click lên dấu tam giác chỉ về bên phải (nút Play của cassette) nằm trong toolbar ngay phía dưới VB menu.

Cách nén các files trong một folder thành một zip file duy nhất

Để gởi nhiều files bằng cách đính kèm (attach) một Email trên Internet ta cần phải nén các files ấy thành một file duy nhất, gọi là Zip file. Trước hết, trong Window Explorer bạn chọn những files bạn muốn Zip chung lại. Bạn chọn nhiều files bằng cách đè nút Ctrl trong khi click lên tên từng file một. Nếu bạn đè lên nút Shift, thay vì nút Ctrl, thì cứ mỗi lúc bạn click, Window Explorer sẽ select cả một dọc tên các files nằm giữa tên hai files bạn click mới nhất. Ngoài ra bạn cũng có thể dùng Menu Command Edit | Select All, hay Ctrl+A để select tất cả các files trong một folder. Đây là trường hợp bạn sẽ dùng khi Zip tất cảc các files trong một VB6 project để gởi qua Thầy/Cô.

Sau khi đã select các file rồi, bạn right click lên các file ấy để context menu pop-up. Chọn Add to Zip.
Nếu bạn không thấy pop-up command Add to Zip thì là bạn chưa install chương trình Winzip. Trong trường hợp ấy, download Winzip từ Internet và install.

 

Bây giờ bạn thử khởi động VB6, đi dạo quanh nó để thử biết các phần của VB6 IDE, và thử làm theo như bài nầy. Nếu có thắc mắc gì thì hỏi Tutor của bạn.

 

Chương Ba – Form và các Controls thông thường

Hầu hết các chương trình VB6 đều có ít nhất một Form. Khi ta chạy chương trình, Form nầy sẽ hiện ra trước hết để ta ra lệnh nó làm chuyện gì. Cái Form trống không chả làm được gì nhiều, nên ta đặt lên Form những controls như Textbox(hộp để đánh chữ vào), Label(nhãn), Commandbutton(nút bấm mệnh lệnh), .v.v.. Các controls cho ta enter các dữ kiện để chương trình dùng xử lý, và các controls cũng hiển thị (display) kết quả cho chúng ta xem.

Sắp đặt controls lên Form

Ta hãy bắt đầu thiết kế một chương trình mới (New Project) bằng cách chọn Standard EXE, môi trường triển khai lập trình (IDE) cho bạn sẵn một Form tên là Form1. Muốn đặt một Control lên Form, click hình cái Control trong Toolbox rồi Drag (bấm nút trái của con chuột rồi kéo cho thành hình chữ nhật trước khi buông nút trái ra) con chuột trên Form vẽ thành cở của Control. Một cách khác để đặt một control lên Form là doubleclick cái Control trong Toolbox, một hình control sẽ hiện ra trên Form. Kế đó bạn dời control đi đến chỗ mình muốn và resize nó. Nếu bất cứ lúc nào bạn không thấy Túi đồ nghề (Toolbox) nằm bên trái, bạn có thể dùng mệnh lệnh Menu View|Toolbox để bắt nó hiện ra. Có một cách khác là click lên toolbox icon trên toolbar chính của VB6.

Nên nhớ rằng Toolbox cũng là một window như các window khác. Khi nó hiện lên rồi bạn có thể nắm (bấm nút trái của con chuột và giữ như vậy chớ không buông ra) title nó để dời đi nơi khác. Bạn có thể đóng nó bằng cách click lên dấu x ở góc phải phía trên. Nếu right click trên Toolbox, nó sẽ display context sensitive menu, trong đó có property dockable (có thể đậu ở bến) . Nếu một window là dockable, sau khi bạn dời nó đi khỏi vi trí docked bình thường của nó, bạn có thể dock nó lại như củ bằng cách double click lên title của nó.

Resize và di chuyển control

Khi bạn select một control (click lên nó), chung quanh control sẽ hiện ra resize handle, 8 nút đen dọc theo chu vi của control.

Click lên các nút đen của resize handle, bạn có thể resize control. Có một cách khác để resize control là dùng Shift + ArrowKey. Bấm nút Shift trong khi bấm một arrow key, control sẽ lớn ra hay thu hẹp theo chiều của ArrowKey.

Lưu ý: Một số control có kích thước tối thiểu, bạn không thể làm cho nó nhỏ hơn được. Thí dụ như Combobox, nó phải cao đủ để display một hàng text.

Tương tự như thế, bấm nút Ctrl trong khi bấm một arrow key, control sẽ di chuyển theo chiều của ArrowKey.
Ngoài ra, nên nhớ rằng trong lúc chương trình chạy (at run-time), trong code ta có thể thay đổi kích thước và vị trí các controls dễ dàng, thậm chí có thể làm cho chúng hiện ra hay biến mất bằng cách sửa đổi value các property left, top, width, height và visible của các controls.

Alignment Grid

Để giúp bạn sắp đặt ngay ngắn các controls trên một form, VB6 cho bạn Alignment Grid. Nó là những dấu đen của các hàng dọc và xuôi trên form. Bạn có thể làm cho các dấu đen của grid trên form biến mất bằng cách dùng menu command Tools | Options để display Option Dialog, kế đó chọn Tag General và clear checkbox “Show Grid”:

Bạn cũng có thể nhân dịp nầy thay đổi khoảng cách chiều rộng (Width) và chiều cao (Height) của các chấm đen của grid. Kích thước nhỏ nhất của Width hay Height là 24. Hãy so sánh hai trường hợp form có và không có Show Grid như dưới đây:

      

Control Locking

Một khi bạn đã sắp đặt kích thước và vị trí của các control trên form rồi, rất dễ ta tình cờ thay đổi các đặc tính ấy vì vô ý click lên một control. Do đó VB6 cho ta Menu command Format | Lock Controls để khóa chúng lại. Sau khi khóa, cái hình ống khóa trên menu bị chìm xuống.

Nếu sau nầy bạn muốn thay đổi kích thước hoặc vị trí của chúng thì nhớ dùng Menu command Format | Lock Controls lại. Sau khi mở khóa, cái hình ống khóa trên menu hiện ra bình thường.

Cài đặt các Properties của Form

Nhiều property của một form ảnh hưởng đến diện mạo vật lý (physical appearance) của nó. Property Caption sẽ quyết định text được hiểu thị trong title. Nếu Property BorderStyle của form không phải là Sizable thì User không thể resize form at run-time. Property Icon quyết định hình icon đuợc dùng trong title của form, nhất là khi form thu nhỏ (minimized). Nếu bạn không muốn cho phép User minimize hay maximize form thì set value của property MinButton, MaxButton ra False. Nếu property ControlBox là False thì form sẽ không có nút minize, maximize hay close (x) trên góc phải của nó, đồng thời form cũng không display cả icon bên góc trái title như trong hình dưới đây:


Vị trí đầu tiên (top,left) của form có thể được thay đổi trong design time bằng cách di chuyển hình nhỏ của nó trong window Form Layout:

Property WindowState xác định Form sẽ có kích thước bình thường (normal=0), hay minimized (=1), maximized =(2).
Lưu ý là property Font của Form sẽ được các control nằm trên nó thừa kế. Tức là khi bạn đặt một control lên form, property Font của control ấy sẽ tự động trở nên giống y như của form.

Vài Event thông dụng của Form

Nhìn từ một phương diện, Form cũng giống như Control. Ta có thể instantiate một form nhiều lần để có nhiều form tương tợ nhau. Trong thí dụ dưới đây, ta instantiate Form2 hai lần để có MyForm và YourForm:

Private Sub CmdCreateForms_Click() 
   Dim MyForm, YourForm 
   Set MyForm = New Form2 
   MyForm.Caption = "This is My Form" 
   MyForm.Show 
   MyForm.Move 1000, 1000 
   Set YourForm = New Form2 
   YourForm.Caption = "YOUR FORM IS HERE" 
   YourForm.Show 
   YourForm.Move 2000, 2000 
End Sub 

Một Form cũng có nhiều Events rất hữu dụng.

  • Form_Initialize: Event nầy xãy ra trước nhất và chỉ một lần thôi khi ta instantiate form đầu tiên. Ta dùng Form_Initialize event để thực hiện những gì cần phải làm chung cho tất cả các instances của form nầy.

  • Form_Load: Event nầy xãy ra mỗi lần ta instantiate một form. Nếu ta chỉ dùng một instance duy nhất của một form trong chương trình thì Form_Load coi như tương đương với Form_Initialize. Ta dùng Form_Load event để initialise variables, controls v.v. cho instance nầy.
    Bên trong Form_Load bạn không thể dùng Setfocus cho một control nào trên form vì form chưa hẳn thành hình (ra đời). Muốn làm việc ấy bạn phải delay (trì hoản) một chút xíu bằng cách dùng Control Timer để đợi cho Form_Load được hoàn tất. Thí dụ:

  •  

     
    Private Sub Form_Load() 
       Timer1.Interval = 500 
       Timer1.Enabled = True 
    End Sub 
    Private Sub Timer1_Timer() 
       Timer1.Enabled = False  ' Timer1_Timer only execute once
       txtName.Setfocus  ' Make Tab Cursor start at TextBox txtName
    End Sub 
    

  • Form_Activate: Mỗi lần một form trở nên active (current) thì nó generate một Activate event. Ta có thể dùng event nầy để refresh display trên form.

  • Form_QueryUnload: Khi User click dấu x phía trên bên phải để close form thì nó generate QueryUnload event. Syntax của Sub nầy như dưới đây:

  •  

     
    Private Sub Form_QueryUnload(Cancel As Integer, UnloadMode As Integer) 
    End Sub 
    

    Event nầy cho ta một dịp để cancel Close action của form (tức là không cho User close form) bằng cách set Cancel bằng 1. UnloadMode cho ta biết ai, task hay form nào muốn close form nầy.
    Ngoài ra, bạn cũng nên biết rằng một form tự động Load hay trở nên active nếu bạn nhắc đến nó, thí dụ như dùng Form2.List1. Khi một form đã được loaded rồi bạn có thể hide (làm cho biến mất) nó. Kế đó, khi bạn show form ra trở lại thì form không có gì thay đổi. Nhưng nếu bạn Unload một form (thí dụ bằng cách dùng Unload Form2 ), rồi sau đó load trở lại bằng cách dùng Form2.Show chẳng hạn, thì Form phải trải qua quá trình Form_Load, và dĩ nhiên form mất tất cả những gì có trước đây. Ngoài ra, Hide/Show một form đã được loaded rồi thì rất nhanh, còn Unload/Load thì mất thì giờ hơn.
    Khi bạn Show một Form chưa hiện hữu thì form sẽ được loaded và show. Đôi khi bạn muốn Load một form, rồi làm việc với nó trước khi Show, trong trường hợp đó bạn dùng Load Form2 rồi một chập sau dùng Form2.Show.

MDI Form

Đôi khi bạn muốn có một MDI form, tức là một form có thể chứa nhiều form con bên trong. Dạng MDIform nầy thường được dùng trong các application như wordprocessor để có thể mở nhiều document cùng một lúc, mỗi document được hiển thị trong một form con. Để có một MDIForm bạn cần phải dùng menu command Project | Add MDI Form. Mỗi VB6 project chỉ có thể có tối đa một MDIform. Muốn một form trở thành một form con bạn set property MDI Child của nó thành True. At run-time bạn không thể hide (biến nó thành invisible) một MDIChild form, nhưng có thể minimize nó. Nếu bạn thật sự muốn hide nó thì phải dùng mánh lới là cho nó vị trí (top,left) số âm lớn hơn kích thước nó để nó nằm ngoài tầm hiển thị của form. Trong một chương trình dùng MDI Form, khi bạn click MDI Form nó không nhảy ra phía trước và che các form con, nhưng vẫn luôn luôn nằm ở dưới.

Controls là gì?

Controls vừa có hình, vừa có code chạy bên trong một window nho nhỏ, giống như một form. Khi ta lập trình VB6 ta lấp ráp các controls (là những vật dụng tiền chế) trên một hay nhiều form để có một chương trình nhanh chóng. Ta giao dịch với một control qua ba đặc tính của control:

  • Properties: tập hợp các đặc tính của control mà ta có thể ấn định lúc design time hay run-time. Có nhiều properties về diện mạo, nếu ta thay đổi at design time sẽ thấy kết quả hiện ra lập tức, thí dụ Font hay màu sắc.

  • Methods: những gì control thực hiện đuợc, tức là những khả năng của nó.

  • Events: những sự cố mà control sẽ thông báo cho chúng ta biết khi nó xãy ra với control. Khi một event xãy ra VB6 sẽ xử lý một Event Handler (thí dụ như Sub Command1_Click()), miễn là chúng ta viết code sẵn trong đó. Nếu không có code thì coi như chúng ta không thèm biết đến các event loại đó. Có một số Events mà chúng ta thường xử lý là:

    • Click : xãy ra khi user click lên control. Ta thường dùng nó cho CommandButton và Listbox.

    • MouseDown, MouseUp : mỗi khi User bấm một mouse button là có một MouseDown Event, khi User buông nó ra thì có một MouseUp Event. Ta thường dùng MouseDown Event để Popup context sensitive menu hay bắt đầu một diễn biến Drag.
      Thí dụ:

       

       
      Private Sub Foods_MouseDown(Button As Integer, Shift As Integer, X As Single, Y As Single) 
         If Button = vbRightButton Then  ' if Right button was pressed
            PopupMenu mnuActions  ' popup a menu
         End If 
      End Sub 
      Private Sub DrinkList_MouseDown(Button As Integer, Shift As Integer, X As Single, Y As Single) 
         DrinkList.drag  ' Displaying a drag icon to start the drag process
      End Sub 
      

      Để ý là Click không cho chúng ta thêm chi tiết gì về sự cố, trong khi MouseDown/MouseUp cho ta biết vị trí của cursor, button nào của Mouse được bấm và lúc ấy User có bấm nút Shift, Ctrl hay Alt không. Mỗi Click là đi đôi với một cặp MouseDown/MouseUp. Nếu bạn muốn xử lý vừa Click lẫn MouseDown thì phải cẩn thận. Thí dụ bạn muốn vừa handle Click event vừa handle Mouse Drag thì phải làm sao phân biệt hai trường hợp. Nếu không User chỉ muốn thấy kết quả của Click mà lại thấy control bắt đầu display một Drag icon thì sẽ bực mình.

    • KeyPress : xãy ra khi user Press một key. Ta thường dùng nó cho TextBox để loại ra (filter out) các keystrokes ta không chấp nhận. KeyPress cho ta ASCII value, một con số có giá trị từ 1 đến 255, của key.
      Trong thí dụ dưới đây, một Enter key sẽ được coi như một TAB key:

    • Private Sub Text1_KeyPress(KeyAscii As Integer) 
         If KeyAscii = 13 Then 
            KeyAscii = 0  ' Swallow the character to avoid side effect
            SendKeys "{TAB}"  ' Emulate entering a TAB
         End If 
      End Sub 
      

    • KeyDown, KeyUp : mỗi KeyPress event là cho ta một cặp KeyDown/KeyUp event. KeyDown/KeyUp cho ta KeyCode và Shift value. Để detect Function key ta cần dùng KeyDown event.
      Trong thí dụ dưới đây, ta display Function key User bấm:

    • Private Sub Text3_KeyDown(KeyCode As Integer, Shift As Integer) 
         If (KeyCode >= 112) And (KeyCode <= 123) Then 
            MsgBox "You pressed the Function key: F" & Trim(Str(KeyCode - 111)) 
         End If 
      End Sub 
      

    • GotFocus : Control trở nên active khi nó nhận được Focus. Nó sẽ generate một GotFocus Event. Ta có thể dùng nó để đổi màu background của một text box như trong thí dụ dưới đây:

    • Private Sub Text2_GotFocus() 
         Text2.BackColor = vbYellow 
      End Sub 
      

    • LostFocus : Thường thường hể một Control GotFocus thì trước đó có một Control LostFocus. Ta có thể dùng Event nầy để Validate entry data hay thu xếp công chuyện cho một control vừa mất Focus.
      Trong thí dụ dưới đây, nếu User không đánh vào một con số ở trong Textbox Text1 thì sẽ được thông báo và Tab Cursor sẽ trở lại Textbox Text1.

    • Private Sub Text1_LostFocus() 
         If Not IsNumeric(Text1.Text) Then 
            MsgBox "Please enter a number!" 
            Text1.SetFocus 
         End If 
      End Sub 
      

    • DragDrop : xãy ra khi ta drop một cái gì lên control . Parameter Source cho ta biết Control nào đã được Drag và Drop. Nhiều khi một control có thể nhận drop từ nhiều control khác nhau. Trong trường hợp đó ta phải test xem hoặc Control Type, hoặc Name hoặc Tag value của Source control là gì để tùy nghi xử lý.
      Trong thí dụ dưới đây, khi User drop mouse xuống Textbox Text2, nếu Source là một Listbox, không cần biết Listbox nào, thì ta copy dòng được chọn trong Listbox ấy qua Textbox Text2.

    • Private Sub Text2_DragDrop(Source As Control, X As Single, Y As Single) 
         If TypeOf Source Is ListBox Then 
            Text2.Text = Source.Text 
         End If 
      End Sub 
      

TextBox

TextBox là control đuợc dùng nhiều nhất để display text và nhận keystroke của Userđể sửa đổi text có sẵn hay cho vào text mới. Property chính và default của Textbox là text, tức là thường thường Text2.text có thể được viết tắt là Text2. Ta có thể disable (khiến nó bất lực, không phản ứng gì hết và không cho sửa đổi) một text box bằng cách set Property Enable ra False (chữ sẽ bị mờ đi), hay Lock (không cho sửa đổi) một text box bằng cách set Property Locked ra True (chữ không bị mờ).
Text có thể được Align (Alignment Property) để display bên trái, chính giữa hay bên phải của hộp nó.


Bạn có thể chọn BackColor và ForeColor cho background và text của TextBox. Dùng Tag Palette khi chọn màu để có đúng một màu bạn muốn.

Dĩ nhiên bạn có thể lựa chọn Font và cở chữ cho Text với Font Property.
Bạn giới hạn số characters mà User có thể enter cho TextBox bằng cách set MaxLength Property.
Nếu Property Multiline là True thì User có thể enter nhiều hàng. At Design time, nếu bạn muốn enter multiline thì phải nhớ bấm nút Ctrl khi press Enter mỗi khi xuống hàng. Nếu không VB6 IDE tưởng rằng bạn đã kết thúc editing.

Muốn assign cho text box multiline text thì phải nhét vào mỗi cuối hàng CarriageReturn và LineFeed characters. Thí dụ như:

Private Sub Command1_Click() 
   Dim TextStr 
   TextStr = "Bau ra bau lay ong cau" & vbCrLf  ' Note: vbCrLf = chr(13) & chr(10)
   TextStr = TextStr & "Bau cau ca bong ngat dau kho tieu" 
   Text1.Text = TextStr 
End Sub 

Nếu bạn muốn mách nước cho User về cách dùng một textbox nào đó thì có thể dùng Property ToolTipText để nó display mách nước mỗi khi mouse cursor nằm lên textbox.

Dùng Property TabIndex để ấn định thứ tự cho Tab Cursor dừng mỗi khi User bấm nút TAB để dời TAB Cursor đến Textbox kế tiếp. Nếu bạn không muốn Tab Cursor dừng ở một TextBox nào thì set Property TabStop nó thành False. Tab Cursor không dừng ở Textbox có Property Enabled bằng False, nhưng vẫn dừng ở Textbox có property Locked bằng True.

Nếu bạn muốn dùng Textbox làm một Password field thì set Property PasswordChar bằng “*“. Làm như thế sẽ ép buộc Textbox display mọi character bằng PasswordChar, tức là “*“, để người khác không đọc được trong khi User enter một Paswword.

Properties SelLength, SelStart và SelText
Nếu bạn muốn biết được tình hình hiện thời của Textbox: SelText cho bạn dãy chữ đang được selected. SelStart cho bạn vị trí của insertion point (chỗ cursor flashing). SelLength cho biết con số characters đã được selected.
Nếu bạn muốn sửa đổi text trong Textbox: SelText cho bạn nhét vào một dãy chữ. SelStart cho bạn ấn định vị trí bắt đầu của dãy chữ bạn sắp select. SelLength ấn định số characters bạn muốn chọn, bắt đầu từ SelStart.
Dưới đây là một thí dụ trong đó ta highlight text tìm được:

Private Sub Form_Click () 
   Dim Search, Where  ' Declare variables.
   ' Get search string from user.
   Search = InputBox("Enter text to be found:") 
   Where = InStr(Text1.Text, Search)  ' Find the given string in Text1.Text.
   If Where > 0 Then  ' If found,
      Text1.SelStart = Where - 1  ' set selection start and
      Text1.SelLength = Len(Search)  ' set selection length.
   Else 
      MsgBox "String not found."  ' Notify user.
   End If 
End Sub 

CommandButton

CommandButton rất tiện cho ta dùng vào việc xử lý một chuyện gì khi User click lên button. Event ta dùng thường nhất cho CommanButton là Click. Ta dùng Property Caption của CommandButton để enter cái gì ta muốn display trên button. Nếu muốn cho phép User dùng ALT+E (đè nút Atl trong lúc bấm nút E) để generate event click thì nhét dấu “&” trước chữ E trong Caption của button. Caption sẽ display chữ E với một gạch dưới.
Ngoài ra ta cũng có thể cho thêm một cái hình vào CommandButton bằng cách chọn một icon cho property Picture và set Property Style ra Graphical, thay vì Standard.

Lúc Run-time bạn có thể thay đổi hình hay Caption của CommandButton. Trong thí dụ dưới đây, Caption của CommandButton CmdOperation flip-flop giữa hai values Stop và Start:

Private Sub CmdOperation_Click() 
   If CmdOperation.Caption = "&Stop" Then 
      CmdOperation.Caption = "St&art" 
   Else 
      CmdOperation.Caption = "&Stop" 
   End If 
End Sub 

Label

Mục đích chính của Label là để display, không cho User Edit như Textbox. Do đó ta có thể dùng Property Font, ForeColor và Backcolor để làm cho nó đẹp. Ngoài ra Property BorderStyle có thể cho Label lỏm xuống nếu bạn set nó bằng Fixed Single. Nếu set property BackStyle bằng Transparent sẽ tránh trường hợp Backcolor của Label làm cho không đẹp.
Label cũng có Property Tabindex. Nếu bạn muốn dùng ALT key để mang Tab Cursor về một Textbox, hãy để một Label với TabIndex bằng TabIndex của TextBox trừ 1. Giả sử Label có Caption là “&Address” thì ALT+A sẽ mang Tab Cursor về TextBox màu vàng như trong thí dụ dưới đây:

Ngoài ra nhớ rằng bạn có thể thay đổi Caption của Label lúc run-time.

CheckBox

CheckBox được dùng để User xác nhận có đặc tính nào một cách nhanh chóng. Property Value của CheckBox có thể là Checked (làm cho hộp vuông có dấu, bằng 1), Unchecked (làm cho hộp vuông trống không, bằng 0) hay Grayed (làm cho hộp vuông có dấu màu nhạt, bằng 2). Một khi biết rằng CheckBox có Value bằng 1, ta có thể đọc Caption của CheckBox để dùng nếu cần.

Bạn có thể dùng Property Alignment để làm cho Caption đứng bên phải (Left Justify) hay bên trái (Right Justify) của hộp vuông.

OptionButton

OptionButton ( còn gọi là RadioButton) có hình tròn với một chấm ở giữa, thay gì hình vuông với một gạch ở giữa như CheckBox. OptionButton luôn luôn được qui tụ thành một nhóm, chứa trong một container. Container là một Control có khả năng chứa các controls khác. Frame, PictureBox, hay chính Form đều là Container. Sau khi đặt một Container lên Form, nếu muốn để một OptionButton lên Container, trước hết ta phải Select container, rồi kế đó chọn OptionButton. Sở dĩ, tất cả OptionButtons phải nằm trong một container là vì bất cứ lúc nào, nhiều nhất là một OptionButton trong container có value True (vòng tròn có chấm ở giữa).
Muốn biết một OptionButton có thật sự nằm trong một container, bạn thử kéo cái container đi chỗ khác. Nếu OptionButton bị dời theo container thì nó nằm trong container. Một cách khác là thử kéo OptionButton ra khỏi container. Nếu kéo ra được thì nó không nằm trong container.
Muốn di chuyển một OptionButton từ container nầy sang container khác, bạn Cut OptionButton rồi Paste nó vô container kia.

Đôi khi một container nằm che trên một control khác. Muốn mang một container ra phía sau các controls khác bạn Select container rồi dùng Menu command Format | Order | Send to Back.

 

Chương Bốn – Viết Code

Trong ba chương đầu chúng ta đã học qua ba bộ phận chánh của một chương trình Visual Basic 6.0. Đó là:

  • Forms là cái nền hay khung để ta xây dựng User Interface.

  • Controls là những viên gạch để ta dùng xây dựng User Interface.

  • Event procedures là code nằm phía sau những hình ảnh, nó là chất keo dùng để dán các Controls lại với nhau để tạo thành chương trình áp dụng của ta.

Như ta đã thấy, tất cả các code được xử lý (executed) khi có một Event xãy ra. Thí dụ như khi User click một CommandButton (Event Click) hay type nút Tab để di chuyển Cursor từ Textbox nầy (Event Lostfocus) qua Textbox khác (Event GotFocus). Các nhóm code xử lý là :

Private Sub Command1_Click() 
   ... 
End Sub 
Private Sub Text1_LostFocus() 
   ... 
End SubPrivate Sub Text2_GotFocus() 
   ... 
End Sub 

Trong khi lập trình, mỗi lần ta double click lên một Control của một Form là VB6 IDE tự động generate cho ta cái vỏ từ hàng Private Sub Control_Event() cho đến End Sub để chúng ta điền những hàng code của mình vào chính giữa.

Điều khiển thứ tự xử lý các dòng code

Giả dụ ta viết một chương trình Vb6 đơn giản như trong hình nầy với hai Textbox tên txtName, txtAge và một nút tên CmdEnter nằm trong một form tên Form1:

Thông thường các dòng code được xử lý theo thứ tự từ trên xuống dưới. Thí dụ như để kiểm xem các dữ kiện vừa được cho vào các Textbox có tương đối hợp lý hay không, khi User click nút CmdEnter, ta xử lý Sub dưới đây:

Private Sub CmdEnter_Click() 
   ' Make sure the Name field is not blank
   If txtName.Text = "" Then 
      MsgBox "Please enter Name" 
      Exit Sub  ' Terminate this Sub
   End If 
   ' Make sure a number is supplied for Age
   If Not IsNumeric(txtAge.Text) Then 
      MsgBox "Please enter a number for Age" 
      Exit Sub  ' Terminate this Sub
   End If 
End Sub 

Cái Sub nói trên có chữ Private nằm phía trước, ý nói chỉ nội trong cùng một form chứa Control CmdEnter (tức là Form1 trong trường hợp nầy) ta mới có thể gọi (dùng) Sub CmdEnter_Click().
Thí dụ ta muốn khi User bấm key “Enter” trên bàn phím sau khi cho vào chi tiết ở Textbox txtAge thì coi như User đã click nút CmdEnter. Ta viết như sau:

Private Sub txtAge_KeyPress(KeyAscii As Integer) 
   If KeyAscii = 13 Then 
      KeyAscii = 0  ' swallow Key Enter to avoid side effect
      CmdEnter_Click  ' Call Private Sub CmdEnter_Click from the same form
   End If 
End Sub 

Khi ta dùng câu CmdEnter_Click làm một dòng code (còn gọi là gọi Sub CmdEnter_Click) thì coi như tương đương với nhét tất cả 10 dòng codes giữa hai hàng Private Sub CmdEnter_Click()End Sub tại chỗ câu CmdEnter_Click, như viết lại dưới đây:

Private Sub txtAge_KeyPress(KeyAscii As Integer) 
   If KeyAscii = 13 Then 
      KeyAscii = 0  ' Swallow Key Enter to avoid side effect
      ' Make sure the Name field is not blank
      If txtName.Text = "" Then 
         MsgBox "Please enter Name" 
         Exit Sub  ' Terminate this Sub
      End If 
      ' Make sure a number is supplied for Age
      If Not IsNumeric(txtAge.Text) Then 
         MsgBox "Please enter a number for Age" 
         Exit Sub  ' Terminate this Sub
      End If 
   End If 
End Sub 

Có một cách nói khác là khi execution đi đến hàng CmdEnter_Click thì nó nhảy vào Private Sub CmdEnter_Click() để execute cho đến hết rồi nhảy trở lại hàng kế tiếp trong Private Sub txtAge_KeyPress(KeyAscii As Integer) Trong Private Sub CmdEnter_Click() nếu User không đánh gì vào Textbox txtName thì chương trình sẽ display message “Please enter Name” rồi Exit Sub. Đây là cách nhảy ngay ra khỏi Sub chớ không đợi phải execute xuống tới hàng chót.

Dùng IF….THEN statement

Trong Private Sub CmdEnter_Click() ở trên ta thấy có hai chỗ dùng IF…THEN để thử xem một điều kiện gì có được thỏa mãn không. Nếu điều kiện là đúng vậy, tức là True thì ta thực hiện những gì đuợc viết từ hàng IF…THEN cho đến hàng END IF. Ngược lại, nếu điều kiện không đúng thì execution nhảy xuống tới dòng code nằm ngay dưới dòng END IF. Tức là có khi execution sẽ đi ngang qua, có khi không đi ngang qua những dòng code ở giữa câu IF…THEN và câu END IF. Điều kiện trong IF Statement là phần nằm giữa hai chữ IFTHEN. Nó đuợc gọi là Logical Expression. Ta có:

   txtName.text = ""  ' content of Textbox txtName is nothing, i.e. an empty string
và 
   NOT IsNumeric(txtAge.text)  ' content of TextBox txtAge is not a number 

Trong Logical Expression thứ nhì ta dùng Function IsNumeric để được cho biết rằng txtAge.text có phải là một con số hay không. Vì ta chỉ than phiền khi txtAge không phải là một con số nên ta phải để thêm chữ NOT phía truớc. Tức là khi

   IsNumeric(txtAge.text) = False 
thì 
   NOT IsNumeric(txtAge.text) = True 

Nếu giữa IF…THEN END IF chỉ có một dòng code bạn có thể nhập dòng code lên với IF…THEN và không dùng END IF. Tức là:

   If theColorYouLike = vbRed Then 
      MsgBox "You 're a lucky person!"
   End If 
is equivalent with 
   If theColorYouLike = vbRed Then MsgBox "You 're a lucky person!" 

Một Logical Expression có thể đơn giản (simple) như trong các thí dụ trên hay rắc rối hơn nếu ta ráp nhiều simple Logical Expression lại với nhau bằng cách dùng những từ ORAND. Khi hai Logical Expression được ráp lại bằng chữ OR (HAY) thì chỉ cần ít nhất một trong hai Expression là TRUE là Logical Expression tổng hợp cũng là TRUE. Cái TRUE Table cho OR như sau:

A

B

A OR B

FALSE

FALSE

FALSE

FALSE

TRUE

TRUE

TRUE

FALSE

TRUE

TRUE

TRUE

TRUE

Trong thí dụ dưới đây nếu một người 25 tuổi trở lên HAY có lợi tức trên 30 ngàn đô la một năm thì cho mượn tiền được :

If (PersonAge >= 25) Or (PersonIncome >= 30000) Then 
   LendPersonMoney 
End If 

Để ý cách dùng các dấu ngoặc đơn giống như trong toán đại số. Thông thường hể cái gì nằm trong ngoặc thì mình tính trước. Nếu có nhiều lớp dấu ngoặc thì tính theo thứ tự từ trong ra ngoài. Như trong bài trên ta tính xem PersonAge >= 25 xem là TRUE hay FALSE, rồi tính xem PersonIncome >= 30000 xem là TRUE hay FALSE, trước khi tính kết quả tổng hợp, dựa vào cái TRUE table cho OR.

Khi hai Logical Expression được ráp lại bằng chữ AND (Và) thì chỉ khi nào cả hai Expression đều là TRUE, Logical Expression tổng hợp mới là TRUE. Cái TRUE Table cho AND như sau:

A

B

A AND B

FALSE

FALSE

FALSE

FALSE

TRUE

FALSE

TRUE

FALSE

FALSE

TRUE

TRUE

TRUE

Trong thí dụ dưới đây nếu học sinh 18 tuổi trở lên và cha mẹ kiếm 100 ngàn trở lên một năm thì đăng ký học sinh ở một đại học tư:

If (StudentAge >= 18) And (ParentIncome >= 100000) Then 
   EnrollStudentAtPrivateUniversity 
End If 

Một Logical Expression có thể tập hợp cả OR lẫn AND như trong thí dụ dưới đây nếu học sinh 18 tuổi trở lên và cha mẹ kiếm 100 ngàn trở lên một năm HAY học sinh có Intelligent Quotient cao hơn 160 thì đăng ký học sinh ở một đại học tư:

If ((StudentAge >= 18) And (ParentIncome >= 100000)) Or (StudentIQ > 160) Then 
   EnrollStudentAtPrivateUniversity 
End If 

Hai dấu ngoặc đơn nằm bên ngoài của:

  ((StudentAge >= 18 ) And (ParentIncome >= 100000)) 

không cần thiết vì theo qui ước, ta tính AND expression trước khi tính OR expression, nhưng nó giúp ta đọc dễ hơn.

Dùng IF….THEN..ELSE statement

Hãy xem thí dụ:

If (StudentPassmark > 75) Then 
   ' Part A
   EnrollStudentAtPublicSchool 
Else 
   ' Part B
   EnrollStudentAtPrivateSchool 
End If 

Nếu học sinh đậu với số điểm trên 75 thì cho học trường công, NẾU KHÔNG thì phải học trường tư. Tức là nếu StudentPassmark > 75 là TRUE thì xử lý phần A, nếu không thì xử lý phần B. Để ý phần A gồm những dòng code nằm giữa dòng If (StudentPassmark > 75) thenelse. Còn phần B gồm những dòng code nằm giữa dòng elseend if.
Ta có thể ráp chữ ELSE với chữ IF để dùng như trong thí dụ sau đây:

<

If (StudentPassmark > 75) Then 
   EnrollStudentAtPublicSchool 
ElseIf (StudentPassmark >= 55) Then 
   EnrollStudentAtSemipublicSchool 
Else 
   EnrollStudentAtPrivateSchool 
End If 

Nếu học sinh đậu với số điểm trên 75 thì cho học trường công, NẾU từ 55 điểm đến 75 điểm thì cho học trường bán công, nếu không (tức là điểm đậu dưới 55) thì phải học trường tư.
Nếu ở tỉnh nhỏ, không có trường tư, ta không có quyết định cho học trò đậu dưới 55 điểm học ở đâu thì bỏ phần ELSE trong thí dụ trên. Phần chương trình trở thành:

If (StudentPassmark > 75) Then 
   EnrollStudentAtPublicSchool 
ElseIf (StudentPassmark >= 55) Then 
   EnrollStudentAtSemipublicSchool 
End If 

Ta có thể dùng ELSEIF nhiều lần như sau:

If (TheColorYouLike = vbRed) Then 
   MsgBox "You 're a lucky person"
ElseIf (TheColorYouLike = vbGreen) Then 
   MsgBox "You 're a hopeful person"
ElseIf (TheColorYouLike = vbBlue) Then 
   MsgBox "You 're a brave person"
ElseIf (TheColorYouLike = vbMagenta) Then 
   MsgBox "You 're a sad person"
Else 
   MsgBox "You 're an average person"
End If 

Execution đi lần lượt từ trên xuống dưới, nếu một điều kiện IF là TRUE thì xử lý phần của nó rồi nhảy xuống ngay dưới dòng END IF. Chỉ khi một điều kiện IF không được thỏa mãn ta mới thử một điều kiện IF bên dưới kế đó. Tức là nếu bạn thích màu đỏ lẫu màu tím (magenta) thì chương trình sẽ display “You’re a lucky person”, và không hề biết “You’re a sad person”.

Dùng SELECT CASE statement

Thí dụ có nhiều ELSEIF như trên có thể được viết lại như sau:

Select Case TheColorYouLike 
Case vbRed 
   MsgBox "You 're a lucky person"
Case vbGreen 
   MsgBox "You 're a hopeful person"
Case vbBlue 
   MsgBox "You 're a brave person"
Case vbMagenta 
   MsgBox "You 're a sad person"
Else 
   MsgBox "You 're an average person"
End Select 

Cách viết nầy tương đối dễ đọc và ít nhầm lẫn khi viết code hơn là dùng nhiều ELSEIF. Phần ELSE trong Select Case statement thì optional (nhiệm ý), tức là có cũng được, không có cũng không sao. Hể khi điều kiện của một Case được thoả mãn thì những dòng code từ đó cho đến dòng Case kế dưới hay Else được xử lý và tiếp theo execution sẽ nhảy xuống dòng nằm ngay dưới dòng End Select.
Nhớ là dưới cùng ta viết End Select, chớ không phải End If. Các Expression dùng cho mỗi trường hợp Case không nhất thiết phải đơn giản như vậy. Để biết thêm chi tiết về cách dùng Select Case, bạn highlight chữ Case (doubleclick chữ Case) rồi bấm nút F1.

Dùng FOR statement

Trong lập trình, nói về Flow Control (điều khiển hướng đi của execution) ta dùng hai loại statement chính: Branch statements như IF..THEN..ELSE (kể cả Select Case) và Iterative statements (lập đi, lập lại) như FOR và WHILE LOOP (Vòng). Ta sẽ nói đến WHILE Loop trong phần kế tiếp. Trong khi Branch statement cho phép ta execute trong nhánh nầy hay nhánh kia tùy theo value của Logical Expression thì Iterative statement cho ta execute một phần code lập đi, lập lại nhiều lần cho đến khi một điều kiện được thỏa mãn.
Giả dụ ta viết một chương trình đơn giản để tính tổng số các con số giữa bất cứ hai con số nào (coi chừng lớn quá). Cái form của chương trình giống như dưới đây:

Sau khi cho hai con số From (Từ)To (Cho đến) ta click nút Calculate và thấy kết quả hiện ra trong Textbox txtTotal. Cái Sub tính tổng số được liệt ra dưới đây:

Private Sub CmdTotal_Click() 
   Dim i, FromNo, ToNo, Total 
   FromNo = CInt(txtFromNumber.Text)  ' Convert Text string ra internal number b?ng Function CInt
   ToNo = CInt(txtToNumber.Text)  ' Convert Text string ra internal number b?ng Function CInt
   Total = 0  ' Initialise Total value to zero
   For i = FromNo To ToNo  ' Iterate from FromNo to ToNo
      Total = Total + i  ' Add the number to the Total
   Next 
   txtTotal.Text = CStr(Total)  ' Convert internal number ra Text string
End Sub 

Trong thí dụ trên, FOR loop bắt đầu từ dòng For i = FromNo To ToNo và chấm dứt ở dòng Next. Khi execution bắt đầu Total bằng 0, i bằng FromNo. Execution sẽ đi qua hết những dòng trong FOR loop rồi value của i sẽ được tăng lên 1, rồi execution sẽ bắt đầu lại ở đầu loop. Trong thí dụ nầy vì FromNo=4 và ToNo=6 nên execution sẽ đi qua cái FOR loop 3 lần. Lần thứ nhất i=4, lần thứ nhì i=5 ,và lần thứ ba thì i=6. Sau đó, khi i=7 thì nó lớn hơn ToNo (=6) nên execution nhảy ra khỏi FOR loop. Kết quả là Total=15 và được display trong Textbox txtTotal, sau khi được converted từ internal number ra text string với Function CStr.
Nếu ta chỉ muốn cộng những số chẳn từ 4 đến 16 ta có thể làm cho i tăng value lên 2 (thay vì 1) mỗi khi đến cuối loop. Tức là i=4,6,8 .v.v..Ta sẽ thêm chữ STEP trong FOR statement như sau:

For i = 4 To 16 Step 2  ' Iterate from 4 to 16 with Step=2
   Total = Total + i  ' Add the number to the Total
Next 

Total sẽ bằng 4+6+8+10+12+14+16= 70. Trong thí dụ trên ta cũng có thể dùng STEP số âm như sau:

For i = 16 To 4 Step -2  ' Iterate from 16 to 4 with Step=-2
   Total = Total + i  ' Add the number to the Total
Next 

Trong trường hợp nầy FOR loop bắt đầu với i=16. Khi đến cuối loop lần thứ nhất value của i bị bớt 2 và trở thành 14. Sau đó i bị giảm giá trị dần dần đến 4. Kế đó i=2 thì nhỏ hơn số cuối cùng (=4) nên execution nhảy ra khỏi FOR loop.

Giả dụ ta muốn lấy ra tất cả những blank space trong một text string. Ta biết con số characters trong một text string, còn gọi là chiều dài của text string có thể tính bằng cách dùng Function Len(TString). Và để nói đến character thứ i trong một Text string ta dùng Mid Function.

Khi User click button Remove Blank Spaces chương trình sẽ execute Sub dưới đây:

Private Sub CmdRemoveBlankSpaces_Click() 
   Dim i, TLen, TMess 
   TMess = ""  ' Initialise temporary String to null string
   For i = 1 To Len(txtOriginalString.Text)  ' Iterate from the first chracter to the last character
      of the string 
      ' Check if chracter is NOT a blank space
      If Mid(txtOriginalString.Text, i, 1) <> " " Then 
         ' Character is not a blank space - so append it to TMess
         TMess = TMess & Mid(txtOriginalString.Text, i, 1) 
      End If 
   Next 
   txtResultString.Text = TMess  ' Disaplay TMess by assigning it to txtResultString.text
End Sub 

Thông thường, ta dùng FOR loop khi biết trước execution sẽ đi qua loop một số lần nhất định. Nhưng thỉnh thoảng, khi một điều kiện được thỏa mãn ta có thể ép execution nhảy ra giữa chừng khỏi FOR loop, chớ không đợi cho đến đủ số lần đi qua loop. Thí dụ như ta muốn biết phải cộng bao nhiêu số kế tiếp từ 1 trở lên để được tổng số vừa lớn hơn hay bằng 76.

Khi User click button Work Out, Sub dưới đây sẽ được xử lý:

Private Sub cmdWorkOut_Click() 
   Dim i, Total, WantedTotal 
   WantedTotal = CInt(txtWantedTotal.Text)  ' Convert Text string ra internal number b?ng Function
   CInt 
   Total = 0  ' Initialise Total value to zero
   For i = 1 To 30 
      Total = Total + i  ' Add the number to the Total
      If Total >= WantedTotal Then Exit For  ' Jump out of FOR loop
   Next 
   txtActualTotal.Text = CStr(Total)  ' Display the Actual Total
   txtUptoNumber.Text = CStr(i)  ' Display the highest number
End Sub 

Dùng DO WHILE Loop statement

Khi ta không biết chắc là execution sẽ đi qua loop bao nhiêu lần thì tốt nhất là dùng DO WHILE Loop statement. Khàc với FOR Loop, trong DO WHILE Loop ta phải tự lo initialisation (tức là mới vô đầu i bằng bao nhiêu) và tự lo tăng value của parameter i. Nếu Logical Expression là True thì execute những dòng code từ DO WHILE cho đến Loop.
Thí dụ mới vừa qua có thể viết lại bằng cách dùng DO WHILE Loop như sau:

Private Sub cmdWorkOut_Click() 
   Dim i, Total 
   WantedTotal = CInt(txtWantedTotal.Text)  ' Convert Text string ra internal number b?ng Function
   CInt 
   Total = 0  ' Initialise Total value to zero
   i = 1  ' Intialise at the first character
   Do While (Total < WantedTotal)  ' Logical Expression is (Total < WantedTotal)
      Total = Total + i  ' Add the number to the Total
      i = i + 1  ' Increment the vakue of i
   Loop 
   txtActualtotal.Text = CStr(Total)  ' Display the Actual Total
   txtUptonumber.Text = CStr(i - 1)  ' Display the highest number
End Sub 

TRong khi Total hãy còn nhỏ hơn WantedTotal thì ta tiếp tục đi qua While Loop. Giả dụ ta có các hàng text chứa giá tiền các thứ có thể bỏ vào ổ bánh mì thịt với giá như sau:

   Chicken Roll      45c
   Roast Beef         55c
   Tomato Sauce        5c

Bây giờ ta muốn viết code để lấy ra giá tiền từ những hàng Text string như trên. Ta sẽ đi từ bên phải lần lần qua trái cho đến khi tìm được một blank space.

Private Sub WorkOutPrice_Click() 
   Dim i, TStr, PriceInCents, Price 
   TStr = "Chicken Roll 45c" 
   i = Len(TStr)  ' Starting from the rightmost character of the text string
   ' Going from right to left, look for the first blank character
   Do While (Mid(TStr, i, 1) <> " ") 
      i = i - 1  ' Keep walking to the left
   Loop 
   PriceInCents = Mid(TStr, i + 1)  ' String including character "c"
   ' Discard the rightmost character which is "c" and convert the price string to single number
   Price = CSng(Left(PriceInCents, Len(PriceInCents) - 1)) 
   txtPrice.Text = CStr(Price)  ' Display the highest number
End Sub 

Dùng Function

Function là một dạng subroutine giống giống như Sub. Chỉ khác ở chỗ Function cho ta một kết quả, cho nên cách dùng Function hơi khác với Sub. Ta viết một variable bên trái dấu =, được assigned kết quả của một Function. Thí dụ như ta dùng Trim Function để loại bỏ những blank space ở hai đầu của text string TString:

     ResultString = Trim(TString)

Ta đưa cho Function Trim một text string called TString. Sau khi Function Trim được executed, ta có kết quả nhưng TString không hề thay đổi. Ngược lại, khi ta gọi một Sub, tất cả những parameter ta đưa cho Sub đều có thể thay đổi trừ khi ta tuyên bố một parameter nào đó là ByVal. Trong thí dụ sau, một copy của StringA được đưa cho Sub nên sau khi execute ProcessString, StringA không hề bị thay đổi.

Sub ProcessString (ByVal StringA, ConditionA, ConditionB) 

Public Sub và Function

Khi ta dùng chữ Public (thay vì Private) phía trước một Sub hay Function, ta cho phép code nằm ở một Form hay Basic Module khác có thể gọi (hay dùng) Sub hay Function đó. Thí dụ trong Form2 ta có định nghĩa DisplayData là:

Public Sub DisplayData 
   . . . . 
End Sub 

Trong Form1, ta gọi DisplayDta như sau:

     Form2.DisplayData

Chương Năm:  Các loại dữ kiện

Công việc chính của tất cả các chương trình VB6 chúng ta viết là chế biến các dữ kiện để trình bày. Thí dụ một thầy giáo dùng một chương trình để tính điểm trung bình của học sinh trong một môn thi. Thầy tuần tự cho điểm của từng học sinh vào và sau cùng bấm một nút bảo chuơng trình tính điểm trung bình cho cả lớp. Chương trình sẽ display điểm thi của từng học sinh bên cạnh tên của học sinh ấy, tổng số học sinh, tổng số điểm, điểm thấp nhất, điểm cao nhất và điểm trung bình:

Tên họ

Ðiểm

Lê Quang Vinh

15.50

Trần văn Thành

16.00

Nguyễn Thị Hương

17.50

Võ Tự Cường

14.00

Phạm Văn Khá

18.00

Cao Xuân Tiên

13.00

Tổng số học sinh:

6

Tổng số điểm:

94.00

Ðiểm thấp nhất:

13.00

Ðiểm cao nhất:

18.00

Ðiểm trung bình:

15.66

Ta có thể tạm chia quá trình xử lý của một chương trình ra làm ba giai đoạn:

  1. Tiếp nhận dữ kiện: Ðây là giai đoạn ta cho dữ kiện vào chương trình (Input data) hoặc bằng cách điền vào một form, hoặc đọc dữ kiện từ một cơ sỡ dữ kiện (Database) hoặc nhận dữ kiện qua đường dây viển thông, .v.v..

  2. Chế biến dữ kiện: Một khi đã có dữ kiện đầy đủ rồi ta sẽ sắp xếp, cộng, trừ, nhân, chia theo cách đã định trước để đi đến kết quả.

  3. Trình bày, báo cáo: Kết quả cần phải được display trên màn ảnh cách gọn ghẽ, thứ tự hay được in ra, ta còn gọi là Report.

Như vậy trong mọi giai đoạn của chương trình ta đều làm việc với dữ kiện. Trong thí dụ nói trên ta làm việc với hai loại dữ kiện: “dòng chữ” (text string) cho tên học sinh và “số” (number) cho các điểm. Sở dĩ ta phải phân biệt các data types vì mỗi loại data có những chức năng riêng của nó. Thí dụ ta không thể cộng hai text string lại với nhau như hai con số, nhưng ta có thể ghép hai text string lại với nhau, thí dụ như ghép chữ house với chữ wife thành ra chữ housewife. Chốc nữa ta sẽ bàn thêm về data types, nhưng bây giờ ta thử tìm hiểu data được chứa trong computer như thế nào.

Dữ kiện được chứa theo quy ước

Rốt cuộc lại, tất cả data đều được chứa dưới dạng các con số. Mỗi con số đại diện cho một thứ gì đó, tùy theo quy ước của người dùng. Chúng ta biết bộ trí nhớ (memory) của computer chứa những byte data, thí dụ như computer của bạn có 32MB, tức là khoảng hơn 32 triệu bytes. Thật ra một byte gồm có 8 bits, mỗi bit đại diện một trong hai trị số: 1 và 0, hay Yes và No , dòng điện chạy qua được hay không được .v.v.. Bit là đơn vị trí nhớ nhỏ nhất của memory.

Một byte có thể chứa một con số từ 0 đến 255, tức là 2^8 -1 (2 lũy thừa 8 bớt 1) . Khi dùng bits ta đếm các số trong hệ thống nhị phân. Nếu bạn chưa biết nhiều thì hãy đọc bài Hệ thống số nhị phân.

Thí dụ, khi bạn ấn nút A trên keyboard, keyboard sẽ gởi về computer con số 65 (01000001 trong nhị phân) . Nếu bạn đang dùng một Notepad chẳng hạn, bạn sẽ thấy chữ A hiện ra. Bạn hỏi tại sao letter A được biểu diễn bằng số 65? Xin trả lời rằng đó là quy ước quốc tế. Quy ước đuợc áp dụng cho tất cả các keys của bàn phím đuợc gọi là ASCII. Theo quy ước nầy digit “1” được biểu diễn bằng con số 48 (00110001) và nút Enter bằng số 13 (00010011).

Chắc có lẽ bạn đã đoán ra rằng theo quy ước ASCII, mỗi pattern (dạng) của 8 bits (1 byte) sẽ biểu diễn một text character. Bây giờ ta thử tính xem các mẫu tự alphabet và digits sẽ chiếm bao nhiêu patterns trong số 256 patterns ta có thể biểu diễn bằng 1 byte. Từ A đến Z có 26 characters. Nhân đôi để tính cho lowercase (chữ thường) và uppercase (chữ hoa) thành ra 52. Cộng với 10 digits từ 0 đến 9 thành ra 62. Cộng thêm chừng ba mươi ngoài các symbols ta dùng chỉ đến chừng 100 patterns mà thôi. Tức là nói một cách khác nếu số patterns ta dùng dưới 128 thì chỉ cần 7 bits (chớ không đến 8 bits) cũng đủ rồi.

Thật ra từ nãy giờ ta chỉ nói đến các characters có thể display hay in ra đuợc (printable characters). Các con số ASCII từ 1 đến 31 không in ra đuợc nhưng đuợc dùng một cách đặc biệt, thí dụ như 7 là BELL (tiếng bíp), 12 là qua trang mới, 10 là xuống hàng, 13 là Enter/CarriageReturn, .v.v.. Chúng đuợc gọi là các Control Characters.
Khi xem qua các Font chữ trong Windows, bạn sẽ thấy cho cùng một con số 65, không phải Font nào cũng display chữ A. Thí dụ như Font Symbol nó display đủ thứ dấu hiệu. Ðiểm nầy nhắc chúng ta lại rằng mối liên hệ giữa một con số bên trong (internal number) và một dấu hiệu được display chẳng qua là một quy ước mà thôi.

Giả sử chúng ta dùng những con số ASCII còn trống để biểu diễn các chữ Việt Nam có dấu và chịu khó ngồi vẽ thêm các Vietnamese characters cần thiết trong Font thì ta có thể display chữ Việt đuợc. Ðúng vậy, đó là cách các khoa học gia Việt Nam đã dùng để display tiếng Việt trong MSWindows, điển hình là VPS, VISCII.

Không phải memory của computer chỉ chứa data thường mà thôi. Nó còn chứa chính chương trình, gọi là executable code trong machine language (ngôn ngữ của máy). Ngày xưa, khi memory của computer còn ít, người ta có thể cho vào từng byte của code một chương trình. Họ lập trình bằng Assembly language. Mỗi hàng code trong Assembly language có thể đuợc dịch thẳng ra code trong machine language. CPU của mỗi manufacturer có một assembly language khác nhau. Các công ty Computer nổi tiếng ngày xưa là IBM, Digital, CDC. Ðến thời buổi Microcomputer ta có Motorola, Intel, nhưng tựu trung, nếu không biết trước code của machine language nào, ta không thể nhận ra gì cả khi nhìn vào memory dump (in ra snapshot của memory) của một computer.

Text String

Nếu ta ghép nhiều characters lại với nhau ta có một Text String. Trong VB6, Text String được viết thành một dãy chữ với dấu ngoặc kép ở hai đầu, thí dụ: “Hello, world”
Tưởng tượng ta ghép ba mẫu tự alphabet đầu tiên lại với nhau: ABC, trong memory Text String nầy được biểu diễn bằng con số 010000010100001001000011 (trong binary) hay 414243 (trong Hex, mỗi nhóm 4 bits tương đuơng với một Hex digit).
VB6 cho ta những Function rất tiện lợi để làm việc với Text String. Ðể ghép hai Text String lại với nhau ta dùng operator &. Thí dụ:

FirstWord = “Hello”
SecondWord = “World”
Greeting = FirstWord & SecondWord ‘ Greeting bây giờ là “HelloWorld”

nếu muốn có một blank space ở giữa hai chữ trên ta viết như sau:
Greeting = FirstWord & ” ” & SecondWord

Muốn biết một Text String đang chứa bao nhiêu characters ta dùng Function Len. Thí dụ:

Greeting = “Hi John!”

iLen = Len(Greeting) ‘ iLen bây giờ bằng 8

Ðể trích ra một phần của Text String (tức là trích ra một SubString) ta dùng các Functions Left, Right và Mid.

Today = “24/05/2001”
‘ Lấy ra 2 characters từ bên trái của String Today
StrDay = Left(Today,2) ‘ StrDay bây giờ bằng “24”
‘ Lấy ra 4 characters từ bên phải của String Today
StrYear = Right(Today,4) ‘ StrYear bây giờ bằng “2001”
‘ Lấy ra 2 characters bắt đầu từ character thứ tư của String Today, character đầu tiên từ bên trái là thứ nhất
StrMonth = Mid(Today,4,2) ‘ StrMonth bây giờ bằng “05”
‘ Lấy ra phần còn lại bắt đầu từ character thứ tư của String Today
StrMonthYear = Mid(Today,4) ‘ StrMonthYear bây giờ bằng 05/2001″

Trong tất cả các trường hợp trên Text String Today không hề bị thay đổi, ta chỉ trích ra một SubString của nó mà thôi.
Nếu ta muốn thay đổi chính Text String Today ta có thể assign value mới cho nó hay dùng Function Mid ở bên trái dấu Assign (=), thí dụ:

Today = “24/05/2001”
‘ Thay thế character thứ 3 của Today bằng “-“
Mid(Today,3,1) = “-”
‘ Thay thế 2 characters bắt đầu từ character thứ 4 của Today bằng “10”
Mid(Today,4,2) = “10”
‘ Thay thế character thứ 6 của Today bằng “-“
Mid(Today,6,1) = “-” ‘ Today bây giờ bằng “24-10-2001”

Ta cũng có thể đạt được kết quả như trên bằng cách lập trình như sau:

Today = “24/05/2001”
Today = Left(Today,2) & “-10-” & Right(Today,4)

Ngoài ra có hai Function rất thông dụng cho Text String là InstrReplace. Instr cho ta vị trí (position) của một pattern trong một Text String. Thí dụ ta muốn biết có dấu * trong một Text String hay không:

myString = “The *rain in Spain mainly…”
Position = Instr(myString,”*”) ‘ Position sẽ là 5
Nếu trong myString không có dấu “*” thì Position sẽ bằng 0

Bây giờ ta thử tách ra Key và Value trong thí dụ sau:
KeyValuePair = “BeatlesSong=Yesterday”
Pos = Instr(KeyValuePair, “=”)
Key = Left(KeyValuePair, Pos-1)
Value = Mid(KeyValuePair, Pos+1)

Muốn thay đổi tất cả dấu “/” thành dấu “-” trong một Text String ta có thể dùng Function Replace như sau:

Today = “24/05/2001”
Today = Replace (Today, “/”, “-“)

Muốn biết trị số ASCII của một character ta dùng Function Asc và ngược lại để có một Text Character với một trị số ASCII nào đó ta dùng Function Chr.

ASCIINumberA = Asc(“A”) ‘ ASCIINumberA bây giờ bằng 65
LineFeedChar = Chr(10)
StrFive = Chr(Asc(“0”) + 5) ‘ ta có digit “5”

Text String trong VB6 dùng một byte cho mỗi ASCII character. Sau nầy khi ta lập trình trong VB7, một character có thể là Unicode character, trong trường hợp đó nó được biểu diễn bằng 2 bytes. VB6 không support Unicode nên không phải là môi trường thích hợp để lập trình cho Unicode tiếng Việt. Trong VB7 mỗi loại Text String có Encoding method riêng của nó để yểm trợ Unicode nếu cần.

Các loại số

Từ nãy giờ ta chỉ bàn về Text String và cách chứa của nó trong memory. Nên nhớ rằng “123” là một Text String và nó được biểu diễn trong memory bằng con số 001100010011001000110011 trong Binary hay 313233 trong Hex. Như vậy có cách nào biểu diễn con số 123 mà không dùng Text String không? Dĩ nhiên là được. Con số 123 là 7B trong Hex hay 01111011 trong Binary, và ta có thể chứa con số nầy vừa tiện lợi để làm toán, vừa ít tốn memory hơn là chứa Text String “123”. Nhớ là ta cần Text String để display hay in ra, còn khi làm toán cộng, trừ, nhân, chia ta lại cần cái dạng raw number hay internal number của nó.

Ðể convert một Text String ra Internal number ta có thể dùng các Functions Val, CInt(ra Integer) hay CSng(ra Single). Ngược lại, để convert từ internal number ra Text String ta có thể dùng Function CStr.

Dollars = “500”
ExchangeRatePerDollar = “7000”
tempValue= Val(Dollars) * Val(ExchangeRatePerDollar)
VNDong = CStr(tempValue)
MsgBox “Amount in VN Dong is ” & VNDong


Thật ra VB6 support nhiều loại data để dùng chứa những con số. Trước hết ta có số nguyên (IntegerLong). Cùng là số nguyên nhưng Integer dùng 2 bytes trong memory để chứa một con số nguyên từ -32768 đến 32767. Ðể ý là 32768 = 2^15 (2 lũy thừa 15) , tức là trong memory các con số từ 32768 đến 65535 được dùng để biểu diễn các số âm. Một lần nữa, nhớ rằng một con số trong memory để biểu diễn một thứ gì chẳng qua chỉ là theo quy ước mà thôi.

Còn Long dùng 4 byte để để chứa một con số nguyên từ -2147483648 đến 2147483647. Nếu bạn dùng Integer mà bị Oveflow error khi làm toán nhân thì assign các con số vào một Long variable (sẽ cắt nghĩa variable sau nầy) TRƯỚC KHI làm toán nhân chớ đừng để kết quả một bài toán nhân quá lớn trước khi Assign nó vào một Long variable. Thí dụ:

‘ Thay gì viết
Dim Result as Long
Result = 30345 * 100 ‘ sẽ bị overflow error

‘ Hãy viết như sau:
Dim Result as Long
Result = 30345
Result = Result * 100 ‘ không bị overflow error


Ðể tính toán cho chính xác ta cần một loại data có thể chứa số sau decimal point. VB6 cho ta SingleDouble. Single dùng 4 bytes, Double dùng 8 bytes. Thông thường, bạn sẽ hiếm khi cần nhắc đến Double.
Khi display một số Single hay Double bạn cần dùng Function Format để convert từ Single ra Text String một cách uyển chuyển. Thí dụ

Dollars = “500.0”
ExchangeRatePerDollar = “7000.0”
Dùng Function CSng để convert String ra Single
tempValue= CSng(Dollars) * CSng(ExchangeRatePerDollar)
Dùng Function Format để có các dấu phẩy ở ngàn và triệu và phải có 2 digits sau decimal point.
VNDong = Format (tempValue, “#,###,###.00”)
MsgBox “Amount in VN Dong is ” & VNDong


VB6 cho ta hai cách chia, đó là / dùng cho Single/Double và \ dùng cho Integer.

5 / 3 cho ta 1.6666666
5 \ 3 cho ta 1


Function Round đuợc dùng để bỏ bớt các con số nằm phía sau decimal point. Thí dụ:

Round ( 12.3456789, 4 )
chỉ giữ lại 4 con số sau decimal point và cho ta 12.3457


Numeric data type Currency chỉ chứa nhất định 4 số sau decimal point. Nó không có ích lợi đặc biệt gì.

Variable

Variable là những chỗ chứa data tạm thời trong memory để ta dùng trong quá trình biến chế data của chương trình. Khi ta Declare (khai báo) một variable loại data gì là ta dành ra một chỗ trong memory để chứa một miếng data loại ấy. Nhớ là tùy theo loại data ta sẽ cần nhiều hay ít memory, một Interger chỉ cần 2 bytes, còn một Single cần đến 4 bytes, trong khi một String thì cần nhiều memory hơn nữa. Thí dụ như:

Dim strFullName as String
Dim ICount as Integer
Dim sRate as Single


Khi bạn tìm cách cho hai data type khác nhau làm việc, thí dụ như làm toán chia một Text String bởi một con số thì có thể bị Mixed mode error. Tuy nhiên nếu Text String ấy gồm những digits thì có thể VB6 sẽ tự động convert Text String ra một con số trước khi dùng nó trong một bài toán. Ngược lại, dĩ nhiên ta không thể ghép một con số vào một Text String, nhưng VB6 có thể convert con số ra một Text String of digits trước khi ghép Text String ấy vào String kia.
Mặc dầu VB6 rất tế nhị trong việc đoán ra ý định của chúng ta trong khi coding nhưng ta phải thận trọng trong cách dùng Data type để tránh gặp phải những bất ngờ.
Vấn đề đặt tên cho variable rất quan trọng. Bạn nên đặt tên variable và các Function, Sub như thế nào để khi đọc code ta thấy dễ hiểu như đọc một bài luận văn. Thường thường, để dễ nhận diện data type của một variable người ta gắn phía trước tên variable các prefix như str cho String, I cho Integer, s cho Single ..v.v.. Khi ráp nhiều chữ rời thành tên một variable, thường thường người ta làm cho letter đầu tiên của mỗi chữ thành ra Hoa (Capital), thí dụ như TotalSalesOfTheMonth.

Có một Tip nho nhỏ là đừng ngại đặt tên variable quá dài. Khi đánh máy nữa chừng tên của một variable bạn có thể đánh Ctrl-Space để IDE đánh nốt phần còn lại của tên variable, nếu không có sự trùng hợp với một tên variable/Sub/Function nào khác.

Nếu công tác lập trình giống như nấu ăn, bạn có thể nghĩ đến variable như các cái rổ, thau ta cần có để việc chuẩn bị thức ăn được tiện lợi. Trước khi bắt tay vào công tác ta xin với chủ nhà cho mình bao nhiêu cái rổ, thau, thún .v.v..(đó là Declare variables). Ta để mỗi loại thức ăn vào một rổ hay thau khác nhau, chớ không để thịt chung với rau cải (cũng như không thể cộng Text String với con số). Khi ta bỏ thêm một trái cà vào rổ cà thì số trái cà trong rổ tăng lên 1. Một lát sau ta lấy ra vài trái cà để dùng thì số trái cà trong rổ bị giảm đi. Khi không cần dùng nữa ta bỏ hay cất mấy trái cà còn lại rồi dẹp cái rổ đi chỗ khác.

Trị giá của một variable thường hay thay đổi trong quá trình xử lý data. Ðến một lúc nào đó variable không còn hiện hữu. Phạm vi hoạt động của một variable được gọi là scope. Nếu code nằm ngoài phạm vi của một variable thì không thể dùng đến variable ấy được. Dưới đây là listing của một chương trình VB6 ngắn:

Option Explicit 
Dim iCount As Integer 
Dim X As Integer 
Dim Y As Integer 

Private Sub CmdIncreX_Click() 
   iCount = iCount + 1 
   X = X + 1 
   If X = 80 Then 
      X = 0 
      Y = Y + 1 
   End If 

End Sub 
Private Sub CmdIncreY_Click() 
   Dim Y 
   iCount = iCount + 1 
   Y = Y + 1 
End Sub 

Trong listing trên Scope của iCount, X, Y là toàn bộ listing, tức là ở đâu cũng có thể nói đến, dùng, thấy các variables đó. Tuy nhiên trong Sub CmdIncreY-Click() có declare một variable Y. Scope của variable nầy là chỉ nội bộ, tức là bên trong Sub CmdIncreY-Click() mà thôi. Chẳng những thế, cái local (địa phương) variable Y nầy còn che cái global variable Y nữa, tức là bên trong Sub CmdIncreY-Click() ta chỉ thấy local variable Y mà không thấy global variable Y. Một khi execution trong Sub CmdIncreY-Click() đã kết thúc thì local variable Y cũng biến mất luôn. Nếu bạn muốn khi trở lại execute Sub CmdIncreY-Click() mà local variable Y vẫn còn y nguyên với giá trị gì nó có từ trước, bạn nên Declare rằng nó Static, như:

Static Y as Integer 

Nói tóm lại, Local variable của Sub hay Function chỉ hoạt động và hiện hữu bên trong Sub/Function. Global variable của một Form hay Module thì áp dụng cho cả Form/Module trừ khi bị che lại bởi một local variable có cùng tên bên tron một Sub/Function. Ngoài ra khi ta Declare một Global variable là Public thì các Form/Module khác cũng thấy và dùng nó được luôn. Theo nguyên tắc của Software Engineering thì vì lý do an ninh ta chỉ cho phép người khác thấy cái gì cần thấy thôi. Do đó, ta không nên Declare các variable Public bừa bãi, nhỡ khi có một variable bị thay đổi value một cách bí mật mà ta không đoán đuợc thủ phạm là ai. Nhớ rằng Declare Public cũng giống như để nhà không đóng cửa vậy.

Ngoài ra, câu Option Explicit ở đầu Listing được dùng để tuyên bố rằng tất cả mọi variables dùng trong Form/Module đều cần phải được Declare. Nhớ là VB6 không đòi hỏi ta phải Declare một variable trước khi dùng nó. Thường thường, tùy theo tình huống, VB6 có thể đoán ra được Data Type của variable khi ta dùng nó lần đầu tiên. Nếu code đòi hỏi value của một variable khi nó đuợc dùng lần đầu thì VB6 tự động coi nó như một Empty String (String không có character nào cả, viết là “” ) nếu nó là Text String Data type hay con số 0 nếu nó là một con số. Ðiều nầy rất là tiện lợi. Tuy nhiên, nếu ta sơ ý đánh vần lộn một variable thì VB6 tự động initialise nó ra Empty String hay 0. Ðây có thể không phải là điều ta muốn. Nếu có dùng Option Explicit thì việc nầy sẽ bị lộ tẩy ngay vì tất cả mọi variable đều phải đuợc tuyên bố chính thức. Do đó, đã là VB6 programmer, bạn hãy xem việc dùng Option Explicit như là một điều răn của Chúa, hãy vâng giữ cách trung tín.

Ngày và Giờ

Có một loại data type đuợc dùng để chứ cả ngày lẫn giờ, đó là Date. Ta có thể biết hiện thời là ngày nào, mấy giờ bằng cách gọi Function Now. Sau đó ta dùng các Function Day, Month và Year để lấy ra ngày, tháng và năm như sau:

Private Sub CmdCheckDate_Click() 
   Dim dDate As Date 
   If IsDate(txtDate.Text) Then  ' eg: txtDate = "26/12/01"
      dDate = CVDate(txtDate.Text)  ' convert a Text String to internal Date using Function CVDate
      ' Day, Month and Year are automatically converted to String
      MsgBox "Day = " & Day(dDate) & ", Month = " & Month(dDate) & ", Year = " & Year(dDate) 
   Else 
      MsgBox "Invalid date. Please try again." 
   End If 
End Sub 

Trong Listing trên ta dùng Function IsDate để kiểm xem txtDate.text có hợp lệ không. Lưu ý là IsDate không phân biệt ngày theo Mỹ (dạng mm/dd/yy) hay theo Âu Châu (dạng dd/mm/yy), do đó dùng IsDate trong công việc kiểm soát nầy không an toàn lắm.
Ðể display ngày giờ theo đúng cách mình muốn bạn có thể dùng Function Format như sau:

MsgBox "NOW IS " & Format (Now, "ddd dd-mmm-yyyy hh:nn:ss")

' will display  
    NOW IS Fri 08-Jun-2001 22:10:53 

Bạn có thể dùng mm để display tháng bằng một con số. Sở dĩ ta dùng nn thay vì mm cho phút là vì mm đã được dùng cho tháng.
Ta có thể thêm bớt các đơn vị của ngày, tháng, v.v. bằng cách dùng Function DateAdd. Thí dụ:

Private Sub CmdNextMonth_Click() 
   txtDate.Text = Format(Now, "dd/mm/yy")  ' 08/06/01
   txtNextMonth.Text = DateAdd("m", 1, CVDate(txtDate.Text)) 
   ' txtNextMonth.text will show 8/07/2001
End Sub 

Dưới đây là cách tính ra ngày cuối của tháng nầy:

Private Sub CmdLastDayOfMonth_Click() 
   Dim dNextMonthDate, dFirstDayNextMonth 
   dNextMonthDate = DateAdd("m", 1, Now)  ' Add one month to get same day next month
   ' Get first day of next month
   dFirstDayNextMonth = 1 & "/" & Month(dNextMonthDate) & "/" & Year(dNextMonthDate) 
   ' Subtract one day to get Last day of this month
   txtLastDayOfMonth.Text = DateAdd("d", -1, CVDate(dFirstDayNextMonth)) 
End Sub 

Ta có thể tính khoảng cách giữa hai ngày theo đơn vị ngày, tháng v.v.. bằng cách dùng Function DateDiff. Kết quả có thể là âm, dương hay 0 tùy theo ngày nào trể hơn. Thí dụ khoảng cách giữa hai ngày theo đơn vị tháng:

DateDiff("m", Now, CVDate(dNextMonthDate))


Trong chương tới ta sẽ học về Data types Boolean, Variant và Data Array.


Chương Sáu – Dùng dữ kiện

Trong chương 5 ta học qua các điểm căn bản về việc dùng variables. Vì công việc chính của một chương trình là xử lý data chứa trong variables, cho nên nếu VB6 cho ta càng nhiều phương tiện để làm việc với variables thì càng tiện lợi. Trong chương nầy ta sẽ học:

  • Boolean variable, tại sao nó hữu dụng

  • Variant variable, cách làm việc với nó.

  • Cách biến đổi (convert) từ loại data type nầy qua loại data khác

  • Arrays của variables và Arrays của controls

  • Cách tạo một data type theo ý mình

Boolean Variables

Boolean là loại data chỉ có thể lấy một trong hai values: True hay False. Khi học về Statement IF…THEN trong chương 4, ta đã nói sơ qua về Boolean data type. Cái phần ở giữa hai chữ IF và THEN được gọi là Logical Expression và kết quả của một Logical Expression là một Boolean value. Nếu điều kiện đuợc thỏa mãn thì value là True, nếu không thì là False.
Bạn hỏi nếu một variable chỉ có thể có hai values, tại sao ta không thể dùng Integer và giới hạn cách dùng trong vòng hai values 1 và 0 thôi, cần gì phải đặt ra Boolean data type. Làm như vậy cũng được, nhưng cái khác biệt chính là khi ta operate trên 2 variables ta phải biết rõ rằng để làm việc với Integer ta dùng +, -, *, \ trong khi với Boolean ta dùng OR, AND, NOT, XOR. Thử xem thí dụ dưới đây:

' Use Integer with values 1 or 0
Dim IAnumber As Integer 
Dim IBnumber As Integer 
Dim IAge As Integer 
Dim sPersonalWorth As Single 
If (IAge >= 18) Then 
   IAnumber = 1 
Else 
   IAnumber = 0 
End If 
If (sPersonalWorth > 1000000) Then 
   IBnumber = 1 
Else 
   IBnumber = 0 
End If 
If (IAnumber = 1) And (IBnumber = 1) Then 
   StandForTheElection 
End If 
'==================================
' Use Boolean
Dim bAdult As Boolean 
Dim bRich As Boolean 
Dim IAge As Integer 
Dim sPersonalWorth As Single 
bAdult = (IAge >= 18) 
bRich = (sPersonalWorth > 1000000) 
If bAdult And bRich Then 
   StandForTheElection 
End If 


Trong thí dụ trên, ta lập trình để nếu một người thỏa mãn hai điều kiện: vừa trưởng thành (18 tuổi trở lên) , vừa giàu có (có trên 1 triệu bạc) thì có thể ra ứng cử
Nếu ta dùng Integer, thứ nhất chương trình đọc khó hiểu, thứ hai cái Logical Expression của IF statement vẫn phài làm việc với operator AND.
Trong khi đó nếu dùng Boolean thì chương trình có vẻ tự nhiên và dễ đọc như tiếng Anh thông thường.

Variant Variables

Variant variable có thể chứa Text String, Number, Date, thậm chí cả một Array (một loạt nhiều variables cùng data type). Nhìn thoáng qua nó rất tiện dụng, nhưng khi một Variant variable được dùng nhiều chỗ, trong nhiều tình huống khác nhau, bạn phải thận trọng. Lý do là vì variant variable có thể chứa những loại data types khác nhau, nên khi bạn operate hai variable có data type khác nhau, Visual Basic 6 cố gắng biến đổi một trong hai variable thành data type của variable kia để làm việc, kết quả là thỉnh thoảng bạn sẽ bị kẹt.
Các tay Software Engineers thuần túy rất ghét lập trình với data không đuợc Declare rõ ràng. Họ không muốn bị hố vì vô tình. Thà rằng để Language Compiler bắt gặp trước những trường hợp bạn vô tình operate trên hai variables có data type khác nhau. Có khi ta bực mình vì Compiler khó tánh, nhưng sẽ tránh bị những surprise (ngạc nhiên) tốn kém sau nầy. Các ngôn ngữ lập trình gắt gao ấy đuợc gọi là strongly typed languages, chẳng hạn như Pascal, C++, Java .v.v.. Sau nầy nếu ta dùng .NET thì các ngôn ngữ C#, VB.NET (VB7) đều là strongly typed. Trong VB7, Microsoft cho lưu đài biệt tích Variant variables của VB6.
Công việc Declare một Variant variable cũng giống như Declare một data type khác. Chỉ có điều ta có thể biết data type thật sự đang được chứa bên trong một Varaint variable bằng cách dùng Function VarType như dưới đây:

Private Sub cmdShowDataTypes_Click() 
   Dim sMess As String 
   Dim vVariant As Variant 
   vVariant = "Nguoi Tinh khong chan dung"  ' Assign a String to vVariant
   sMess = VarType(vVariant) & vbCrLf  ' use vbCrLF to display the next string on a new line
   vVariant = 25  ' Assign an Integer to vVariant
   sMess = sMess & VarType(vVariant) & vbCrLf 
   vVariant = True  ' Assign an Boolean value to vVariant
   sMess = sMess & VarType(vVariant) & vbCrLf 
   ' Assign an Date to vVariant
   vVariant = #1/1/2001#  ' enclose a Date string with #, instead of " as for normal Text String
   sMess = sMess & VarType(vVariant) 
   MsgBox sMess 
End Sub 


Khi ta click button ShowDataTypes chương trình sẽ display giá trị của các Data Types trong mỗi trường hợp:


Sau đây là bảng liệt kê những VarTypes thông dụng:

Giá trị VarType

Chú thích

0-vbEmpty

Không có gì trong variant

1-vbNull

Không có valid (hợp lệ) data trong variant

2-vbInteger

Variant chứa Integer

4-vbSingle

Variant chứa Single

7-vbDate

Variant chứa Date/Time

8-vbString

Variant chứa String

9-vbObject

Variant chứa một Object

11-vbBoolean

Variant chứa Boolean

Ðể làm việc với đủ loại VarTypes bạn có thể dùng Select Case như sau:

Private Sub Process_Click() 
   Select Case VarType(vVariant) 
   Case vbString 
      ' ...
   Case vbBoolean 
      ' ...
   Case vbInteger 
      ' ...
   Case vbDate 
      ' ...
   End Select 
End Sub 


Constants (Hằng số)

Variables rất tiện dụng để chúng ta dùng chứa các data có thể biến đổi value trong suốt quá trình xử lý của chương trình. Nhưng đôi khi chúng ta muốn có một loại variable mà value không bao giờ thay đổi, VB6 cho ta Constant để dùng vào việc nầy. Thí dụ như thay gì dùng trực tiếp môt con số hay một Text String ở nhiều chỗ trong chương trình, ta đặt tên Constant và cho nó một value tại một chỗ nhất định. Thí dụ ta viết chương trình cho 5 chiếc xe chạy đua. Ðể khởi hành các chiếc xe ta dùng một FOR…LOOP đơn giản như:

For ICar = 1 To 5 
   Call StartCar (ICar) 
Next 

Tương tự như vậy ở nhiều nơi khác trong chương trình, mỗi lần nói đến con số các xe ta dùng số 5. Nếu sau nầy muốn thay đổi con số các xe thành ra 10, ta phải tìm và thay đổi tất cả các con số 5 nầy thành ra 10. Nếu không thận trọng ta có thể thay đổi một con số 5 dùng cho chuyện gì khác, chớ không phải cho con số các xe, thành ra 10 – như vậy ta vô tình tạo ra một bug. Ðể tránh vấn đề nầy ta có thể dùng Constant như sau:

Const NUMBER_OF_CARS = 10 
For ICar = 1 To NUMBER_OF_CARS 
   Call StartCar (ICar) 
Next 


Sau nầy muốn thay đổi con số các xe, ta chỉ cần edit value của Constant. Trong khắp chương trình, nơi nào nhắc đến con số các xe ta dùng chữ NUMBER_OF_CARS, vừa dễ hiểu, vừa tránh lầm lẫn.

Biến đổi (convert) từ loại data type nầy qua loại data khác

Nhiều lúc ta cần phải convert data type của một variable từ loại nầy qua loại khác, VB6 cho ta một số các Functions dưới đây. Xin lưu rằng khi call các Functions nầy, nếu bạn đưa một data value bất hợp lệ thì có thể bị error.

Conversion Function

Chú thích

CBool (
)

Ðổi parameter ra True hay False. Nếu Integer value khác 0 thì được đổi thành True

CByte (
)

Ðổi parameter ra một con số từ 0 đến 255 nếu có thể được, nếu không được thì là 0.

CDate (
)

Ðổi parameter ra Date

CDbl (
)

Ðổi parameter ra Double precision floating point number

CInt (
)

Ðổi parameter ra Integer

CSng (
)

Ðổi parameter ra Single precision floating point number

CStr (
)

Ðổi parameter ra String

Ngoài các Function nói trên bạn cũng có thể dùng Function Val để convert một String ra Number. Lưu ý là khi Function Val process một String nếu nó gặp một character nào không phải là digit hay decimal point thì nó không process tiếp nữa. Do đó nếu Input String là “$25.50” thì Val returns con số 0 vì $ không phải là một digit. Nếu Input String là “62.4B” thì Val returns 62.4.
CDbl là Function dùng để convert một String ra số an toàn nhất. Input String có thể chứa các dấu ,. (thí dụ: 1,234,567.89) tùy theo nơi bạn ở trên thế giới (thí dụ như Âu Châu hay Mỹ). CSng cũng làm việc giống như CDbl nhưng nếu con số lớn hơn 1 triệu nó có thể bị bug.
Cái bug bực mình nhất của CSng là nếu Input String không có gì cả (tức là InputString=””) thì Function CSng cho bạn Type Mismatch Error. Do đó để khắc phục cái khuyết điểm nầy bạn có thể viết cho mình một Function tạm đặt tên là CSingle để dùng thế cho CSng như sau:

Function CSingle(strNumber) As Single 
   If Trim(strNumber) = "" Then 
      CSingle = 0# 
   Else 
      CSingle = CSng(strNumber) 
   End If 
End Function 

Arrays

Khi bạn có nhiều variables tương tợ nhau, thí dụ như điểm thi của 10 học sinh, nếu phải đặt tên khác nhau cho từng variable (thí dụ: HoaMark, TaiMark, SonMark, TamMark, NgaMark, HuongMark .v.v..) thì thật là cực nhọc và bất tiện. Bạn có thể dùng Array để có một tên chung cho cả nhóm, rồi nói đến điểm của từng người một bằng cách dùng một con số gọi là ArrayIndex. Bạn sẽ Declare như sau:

Dim myStudentMarks(10) as Integer 

Kế đó bạn nói đến điểm của mỗi học sinh bằng cách viết myStudentMarks(i), mà i là ArrayIndex. Giả dụ ta muốn tính tổng số điểm:

Sub CmdCalculateTotal_Click() 
   Dim myStudentMarks(10) As Integer  ' Declare array, assuming students' marks are Integers
   Dim TotalMark As Integer  ' Use this variable to accumulate the marks
   Dim i As Integer  ' Use i as ArrayIndex
   myStudentMarks(1) = 6  ' First student's mark
   myStudentMarks(2) = 7  ' Second student's mark
   myStudentMarks(3) = 5 
   myStudentMarks(4) = 9 
   myStudentMarks(5) = 6 
   myStudentMarks(6) = 8 
   myStudentMarks(7) = 9 
   myStudentMarks(8) = 10 
   myStudentMarks(9) = 6 
   myStudentMarks(10) = 7 
   TotalMark = 0  ' This statement is not required as VB6 initialises TotalMark to 0
   ' Go through all students and add each student's mark to the Total
   For i = 1 To 10 
      TotalMark = TotalMark + myStudentMarks(i) 
   Next 
   txtTotal.Text = CStr(TotalMark)  ' Convert to String for display by assigning to Textbox txtTotal
End Sub 



Khi ta Declare Dim myStudentMarks(10) as Integer thật ra ra ta có một Array với 11 Array Elements chớ không phải 10, vì Array bắt đầu với ArrayIndex value=0. Có điều trong thí dụ trên ta cố ý không nhắc đến ArrayElement 0. Nếu thật sự muốn có chính xác 10 Elements thôi, ta có thể Declare như sau:

Dim myStudentMarks (1 To 10 ) As Integer 

Loại Array ta vừa dùng qua là Single Dimention. Nếu trong thí dụ trên ta muốn tính điểm của học sinh trong 3 lớp học, ta có thể Declare Double Dimention Array như sau:

' Four classes, each has up to 6 students
Dim myStudentMarks(3, 5) As Integer  ' Note that each dimension starts at 0
' or
' Three classes, each has up to 5 students
Dim myStudentMarks(1 To 3, 1 To 5) As Integer 


Nhân tiện nói chuyện về Array cho variables, ta cũng có thể dùng Array cho controls cùng một loại trong một Form. Nếu ta có nhiều Label controls (hay Textbox controls ) với những chức năng giống nhau trong chương trình, ta có thể dùng cùng một tên cho các controls, nhưng khác Property Index value của chúng.
Bạn có thể create một Array of Labels bằng cách Copy cái Label rồi Paste nó lên Form. VB6 sẽ hỏi nếu bạn muốn có một Array of controls. Nếu bạn trả lời Yes, VB6 sẽ tự động cho Label thứ nhất Index value=0 và Label mới vừa được Pasted Index value=1. Sau đó nếu bạn tiếp tục Paste cái Label đã có Index rồi thì VB6 không hỏi nữa và vui vẻ tăng Index value lên cho các Labels sau. Do đó nếu bạn gọi Label thứ nhất là lblClass rồi Copy và Paste nó 2 lần bạn sẽ có một Array of 3 Labels tên lblClass và các Index values 0, 1, 2.

Trong thí dụ sau đây, ta create một Array of Labels tên lblClass và một Array of Textboxes tên txtClassMark. Trong Sub Form_Load ta generate Captions của các Labels.

Private Sub Form_Load() 
   Dim i As Integer 
   For i = 0 To 2 
      ' Label Index starts at 0, but Class number starts at 1
      lblClass(i) = "Mark of Class " & CStr(i + 1) 
   Next 
End Sub 

Sub CmdCalculateTotal_Click() 
   ' Three classes, each has up to 5 students
   Dim myStudentMarks(1 To 3, 1 To 5) As Integer 
   Dim TotalMark As Integer 
   Dim ClassMark As Integer 
   Dim i As Integer  ' Use as ArrayIndex for Class
   Dim j As Integer  ' Use as ArrayIndex for StudentMark
   ' Students' marks of first class
   myStudentMarks(1, 1) = 6 
   myStudentMarks(1, 2) = 7 
   myStudentMarks(1, 3) = 5 
   myStudentMarks(1, 4) = 9 
   myStudentMarks(1, 5) = 6 
   ' Students' marks of second class
   myStudentMarks(2, 1) = 8 
   myStudentMarks(2, 2) = 8 
   myStudentMarks(2, 3) = 6 
   ' Students' marks third class
   myStudentMarks(3, 1) = 5 
   myStudentMarks(3, 2) = 7 
   myStudentMarks(3, 3) = 8 
   myStudentMarks(3, 4) = 6 
   For i = 1 To 3 
      ClassMark = 0  ' Intialise ClassMark of class i to 0
      ' Now go through each Student in Class i
      For j = 1 To 5 
         ClassMark = ClassMark + myStudentMarks(i, j)  ' Accumulate ClassMark of class i
         TotalMark = TotalMark + myStudentMarks(i, j) 
      Next 
      ' Display ClassMark of class i. Note that txtClassMark Index starts at 0, NOT 1
      txtClassMark(i - 1).Text = CStr(ClassMark) 
   Next 
   txtTotal.Text = CStr(TotalMark)  ' Display TotalMark
End Sub 


Ghi chú: Nếu bạn có một Array of Textboxes gồm chỉ có 2 Textboxes, rồi sau đó bạn Delete một Textbox và muốn dùng Textbox còn lại làm cái Textbox duy nhất, bạn vẫn phải refer (nhắc đến nó) bằng cách dùng Index (thí dụ: txtClassMark(0) ), dù rằng bây giờ nó là Textbox duy nhất mang tên ấy. Nếu bạn muốn dẹp cái vụ Index thì bạn phải vào Properties Window để Delete cái Index value của ArrayTextbox. Nếu bạn không lưu ý điểm nầy thì có khi bạn sẽ bứt tóc không hiểu tại sao mình dùng đúng tên mà VB6 vẫn nhất định rằng cái Textbox bạn nói đến không hiện hữu, vì VB6 cần Index value của Textbox.


Thỉnh thoảng, khi Declare Array bạn không biết rõ mình sẽ cần bao nhiêu Elements cho mỗi dimension. Trong trường hợp ấy bạn có thể dùng Dynamic Arrays và Declare một Array như sau:

Private myStudentMarks() As Integer 

Vì bạn không để một con số ở giữa hai dấu ngoặc đơn nên VB6 biết là bạn muốn dùng Dynamic Array và dimension của nó có thể sẽ thay đổi trong tương lai. Khi nào muốn thay đổi dimension của Dynamic Array bạn dùng ReDim keyword:

ReDim myStudentMarks(10) 

ReDim Preserve myStudentMarks(10) 

Cả hai statements trên đều đổi dimension của Array myStudentMarks thành 11 (từ Element 0 đến Element 10), nhưng trong statement thứ nhì chữ Preserve giữ nguyên values của các Elements của Array.
Khi làm việc với Array thỉnh thoảng bạn cần biết các Elements thấp nhất và cao nhất bằng cách dùng LBoundUBound.

Private MyArray(10 to 20) As String 
LowestNum = LBound(MyArray)  ' LBound returns 10
HighestNum = UBound(MyArray)  ' UBound returns 20

Private YourArray( 2 to 5, 10 to 15) As Integer 
LowestNumOfFirstDimension = LBound(YourArray,1)  ' LBound returns 2
HighestNumOfSecondDimension = UBound(YourArray,2)  ' UBound returns 15 


Ngoài ra nếu dùng Dynamic Array, bạn có thể assign một Array nầy cho một Array khác, thay vì phải dùng FOR …LOOP để copy từng Array Element.

     MyArray = HisArray


Data Type của bạn

Bạn có thể gom các mảnh Data của cùng một vật nào đó thành một nhóm và đặt tên cho loại Data Type ấy như sau:

Type EmployeeRec  ' EmployeeRec as name of this new Data Type
   Firstname As String 
   Surname As String 
   Salary As Single 
   DateOfBirth As Date 
End Type 

' Now declare a variable of the new data type
Dim MyEmployee As EmployeeRec 
MyEmployee.Firstname = "David" 
MyEmployee.Surname = "Smith" 
MyEmployee.Salary = 25000 
MyEmployee.DateOfBirth = #14/6/1963# 

Trong Software Engineering, người ta gọi loại Data Type nầy là Structured Data Type để phân biệt nó với các loại Simple Data Type như Integer, Boolean, Single .v.v.. Bạn để ý cách nói đến một mảnh data, MyEmployee.Firstname, giống như là Property Firstname của một control tên MyEmployee.
Có một cách viết khác để tránh typing nhiều lần chữ MyEmployee bằng cách dùng keyword With như sau:

With MyEmployee 
   .Firstname = "David" 
   .Surname = "Smith" 
   .Salary = 25000 
   .DateOfBirth = #14/6/1963# 
End With 


Mặc dầu định nghĩa và dùng Structured Data Type cách nầy rất tiện lợi, nhưng sau nầy ta có thể dùng Class để đạt được cùng một mục tiêu mà còn hữu hiệu hơn nữa. Trong Class chẳng những ta định nghĩa những mảnh data mà còn đề ra cách xử lý chúng nữa.


Chương Bảy – Dùng List Controls

Có hai loại List controls dùng trong VB6. Ðó là Listbox và Combobox. Cả hai đều display một số hàng để ta có thể lựa chọn.
Listbox chiếm một khung chữ nhật, nếu chiều ngang nhỏ thì có khi không display đầy đủ một hàng, nếu chiều dài không đủ để display tất cả mọi hàng thì Listbox tự động cho ta một vertical scroll bar để cho biết còn có nhiều hàng bị che và ta có thể xem các hàng ấy bằng cách dùng vertical scroll bar.
Combobox thường thường chỉ display một hàng, nhưng ta có thể chọn display bất cứ hàng nào khác. Combobox giống như một tập hợp của một Textbox nằm phía trên và một Listbox nằm phía dưới.


Listbox có rất nhiều công dụng vì nó rất uyển chuyển. Trong chương nầy ta sẽ học qua các áp dụng sau của Listbox:

  • Display nhiều sự lựa chọn để User selects bằng cách click hay drag-drop

  • Những cách dùng Property Sorted

  • Cách dùng Multiselect

  • Dùng để display Events

  • Dùng để Search hay process text

  • Cách dùng Itemdata song song với các Items của List

  • Dùng làm Queue

Listbox

Display nhiều sự lựa chọn

Ta hãy bắt đầu viết một chương trình gồm có một Listbox tên lstNames nằm trong một Form. Trong lstNames ta đánh vào tên của bảy người, mỗi lần xuống hàng nhớ đánh Ctrl-Enter, thay vì chỉ Enter, nếu không VB6 tưởng ta đã đánh xong nên close property List. Các tên nầy là những hàng sẽ hiện ra trong Listbox khi ta bắt đầu chạy program.


Ngoài lstNames ta cho thêm một Label với Caption STUDENTS để trang hoàng, và một Label khác tên lblName. Mỗi khi User click lên hàng tên nào ta muốn display hàng tên ấy trong lblName. Sau cùng ta cho vào một CommandButton tên CmdExit để cho User phương tiện Stop cái program. Ta sẽ có chương trình như sau:

Private Sub lstNames_Click() 
   ' Assign the selected line of Listbox lstNames to Caption of Label lblName
   lblName.Caption = lstNames.List(lstNames.ListIndex)  ' or = lstNames.text
End Sub 
Private Sub CmdExit_Click() 
   End 
End Sub 


Giả sử ta click vào tên John Smith trên Listbox, ta sẽ thấy tên ấy cũng đuợc display trong Label lblName.


Trong thí dụ nầy, Listbox lstNames có 7 hàng ( Items). Con số Items nầy là Property ListCount của Listbox. Các Items của Listbox được đếm từ 0 đến ListCount-1. Trong trường hợp nầy là từ 0 đến 6.
Khi User click lên một hàng, Listbox sẽ generate Event lstNames_Click. Lúc bấy giờ ta có thể biết được User vừa mới Click hàng nào bằng cách hỏi Property ListIndex của lstNames, nó sẽ có value từ 0 đến ListCount-1. Lúc program mới chạy, chưa ai Click lên Item nào của Listbox thì ListIndex = -1.
Nhũng Items trong Listbox được xem như một Array của String. Array nầy được gọi là List. Do đó, ta nói đến Item thứ nhất của Listbox lstNames bằng cách viết lstNames.List(0) , và tương tợ như vậy, Item cuối cùng là lstNames.List( lstNames.ListCount-1).
Ta có thể nói đến item vừa được Clicked bằng hai cách: hoặc là lstNames.List(lstNames.ListIndex), hoặc là lstNames.text.

Save content của Listbox

Bây giờ để lưu trử content của lstNames, ta thêm một CommandButton tên CmdSave. Ta sẽ viết code để khi User click nút CmdSave program sẽ mở một Output text file và viết mọi items của lstNames vào đó:

Private Sub CmdSave_Click() 
   Dim i, FileName, FileNumber 
   ' Obtain Folder where this program's EXE file resides
   FileName = App.Path 
   ' Make sure FileName ends with a backslash
   If Right(FileName, 1) <> "\" Then FileName = FileName & "\" 
   FileName = FileName & "MyList.txt"  ' name output text file MyList.txt
   ' Obtain an available filenumber from the operating system
   FileNumber = FreeFile 
   ' Open the FileName as an output file , using FileNumber as FileHandle
   Open FileName For Output As FileNumber 
   ' Now iterate through each item of lstNames
   For i = 0 To lstNames.ListCount - 1 
      ' Write the List item to file. Make sure you use symbol # in front of FileNumber
      Print #FileNumber, lstNames.List(i) 
   Next 
   Close FileNumber  ' Close the output file
End Sub 


App là một Object đặc biệt đại diện cho chính cái program đang chạy. Ở đây ta dùng Property Path để biết lúc program đang chạy thì execute module EXE của nó nằm ở đâu. Lý do là thường thường ta để các files liên hệ cần thiết cho program lẩn quẩn hoặc ngay trong folder của program hay trong một subfolder, chẳng hạn như data, logs, .v.v..
App còn có một số Properties khác cũng rất hữu dụng như PrevInstance, Title, Revision ..v.v.
Nếu mới started một program mà thấy App.PrevInstance = True thì lúc bấy giờ cũng có một copy khác của program đang chạy. Nếu cần ta End program nầy để tránh chạy 2 copies của program cùng một lúc.
App.Title và App.Revision cho ta tin tức về Title và Revision của program đang chạy.
Ðể viết ra một Text file ta cần phải Open nó trong mode Output và tuyên bố từ rày trở đi sẽ dùng một con số (FileNumber) để đại diện cái File thay vì dùng chính FileName. Ðể tránh dùng một FileNumber đã hiện hữu, tốt nhất ta hỏi xin Operating System cung cấp cho mình một con số chưa ai dùng bằng cách gọi Function FreeFile. Con số FileNumber nầy còn đuợc gọi là FileHandle (Handle là tay cầm). Sau khi ta Close FileNumber con số nầy trở nên FREE và Operating System sẽ có thể dùng nó lại.
Do đó bạn phải tránh gọi FreeFile liên tiếp hai lần, vì OS sẽ cho bạn cùng một con số. Tức là, sau khi gọi FreeFile phải dùng nó ngay bằng cách Open một File rồi mới gọi FreeFile lần kế để có một con số khác.
Ðể ý cách dùng chữ Input, Output cho files là relative (tương đối) với vị trí của program (nó nằm trong memory của computer). Do đó từ trong memory viết ra hard disk thì nói là Output. Ngược lại đọc từ một Text file nằm trên hard disk vào memory cho program ta thì gọi là Input.

Load một Text file vào Listbox

Trong bài nầy, thay vì đánh các Items của Listbox vào Property List của lstNames ta có thể populate (làm đầy) lstNames bằng cách đọc các Items từ một Text file. Ta thử thêm một CommandButton tên CmdLoad. Ta sẽ viết code để khi User click nút CmdLoad program sẽ mở một Input text file và đọc từng hàng để bỏ vào lstNames:

Private Sub CmdLoad_Click() 
   Dim i, FileName, FileNumber, anItem 
   ' Obtain Folder where this program's EXE file resides
   FileName = App.Path 
   ' Make sure FileName ends with a backslash
   If Right(FileName, 1) <> "\" Then FileName = FileName & "\" 
   FileName = FileName & "MyList.txt" 
   ' Obtain an available filenumber from the operating system
   FileNumber = FreeFile 
   ' Open the FileName as an input file , using FileNumber as FileHandle
   Open FileName For Input As FileNumber 
   lstNames.Clear  ' Clear the Listbox first
   ' Now read each line until reaching End-Of-File, i.e. no more data
   Do While NOT EOF(FileNumber) 
      Line Input #FileNumber, anItem  ' Read a line from the Text file into variable anItem
      lstNames.AddItem anItem  ' Add this item to the bottom of lstNames
   Loop 
   Close FileNumber  ' Close the input file
End Sub 

Ðể đọc từ một Text file ta cần phải Open nó trong mode Input.
Trước khi populate lstNames ta cần phải delete tất cả mọi items có sẵn bên trong. Ðể thực hiện việc đó ta dùng method Clear của Listbox.
Sau đó ta dùng method AddItem để cho thêm từng hàng vào trong Listbox. By default, nếu ta không nói nhét vào ở chỗ hàng nào thì AddItem nhét Item mới vào dưới chót của Listbox.
Nếu muốn nhét hàng mới vào ngay trước item thứ 5 (ListIndex = 4), ta viết:

lstNames.AddItem newItemString, 4  ' newItemString contains "Ross Close", for example
' To insert a new Item at the beginning of the Listbox, write:
lstNames.AddItem newItemString, 0 

Nhớ là mỗi lần bạn Add một Item vào Listbox thì ListCount của Listbox increment by 1.
Muốn delete một item từ Listbox ta dùng method RemoveItem, thí dụ như muốn delete item thứ ba (ListIndex=2) của lstNames, ta viết:

lstNames.RemoveItem 2 


Mỗi lần bạn RemoveItem từ Listbox the ListCount của Listbox decrement by 1. Do đó nếu bạn dùng cái Test dựa vào ListCount của một ListBox để nhảy ra khỏi một Loop thì phải coi chừng tránh làm cho value ListCount thay đổi trong Loop vì AddItem hay RemoveItem.
Ta đọc từng hàng của một Text file bằng cách dùng Line Input #FileNumber. Khi đọc đến cuối File, system dẽ cho ta value EOF(FileNumber) = True. Ta dùng value ấy để cho program nhảy ra khỏi While.. Loop.
Câu Do While NOT EOF(FileNumber) có nghĩa Trong khi chưa đến End-Of-File của Text File đại diện bởi FileNumber thì đọc từ hàng và bỏ vào Listbox. Giống như “Trong khi chưa trả hết nợ nhà vợ thì phải tiếp tục ở rể”.

Drag-Drop

Ta đã học qua Click Event của Listbox. Bây giờ để dùng Drag-Drop cho Listbox bạn hãy đặt 2 Labels mới lên Form. Cái thứ nhất tên gì cũng được nhưng có Caption là Room A. Hãy gọi Label thứ hai là lblRoom và cho Property BorderStyle của nó bằng Fixed Single. Kế đến select cả hai Labels (Click a Label then hold down key Ctrl while clicking the second Label) rồi click copy và paste lên Form. VB6 sẽ cho bạn Array của hai lblRoom labels.
Ðể cho lstNames một DragIcon, bạn click lstNames, click Property DragIcon để pop-up một dialog cho bạn chọn một dragdrop icon từ folder C:\Program Files\Microsoft Visual Studio\Common\Graphics\Icons\Dragdrop, chẳng hạn như DRAG2PG.ICO:

Ta sẽ dùng Event MouseDown của lstNames để pop-up DragIcon hình 2 trang giấy cho User Drag nó qua bên phải rồi bỏ xuống lên một trong hai lblRoom. Khi DragIcon rơi lên lblRoom, lblRoom sẽ generate Event DragDrop. Ta sẽ dùng Event DragDrop nầy để assign property Text của Source (tức là lstNames, cái control từ nó phát xuất Drag action) vào Property Caption của lblRoom. Lưu ý vì ở đây ta dùng cùng một tên cho cả hai lblRoom nên chỉ cần viết code ở một chỗ để handle Event DragDrop.

Private Sub lstNames_MouseDown(Button As Integer, Shift As Integer, X As Single, Y As Single) 
   ' Start Pop-up DragIcon and start Drag action
   lstNames.Drag 
End Sub 
Private Sub lblRoom_DragDrop(Index As Integer, Source As Control, X As Single, Y As Single) 
   ' Assign Property Text of Source (i.e. lstNames) to Label's Caption
   lblRoom(Index).Caption = Source.Text 
End Sub 


Kết quả sau khi Drag hai tên từ Listbox qua Labels là như sau:

Bạn có thể download chương trình nầy (MyList.zip) để có luôn cả project.

Dùng Property Sorted

Trong thí dụ trên ta có thể quyết định vị trí của một Item mới khi ta nhét nó vào Listbox. Ðôi khi ta muốn các Items của Listbox được tự động sắp theo thứ tự Alphabet. Bạn có thể set Property Sorted = True để thực hiện chuyện nầy. Có một giới hạn là bạn phải cho Property Sorted một value (True hay False) trong lúc design, chớ trong khi chạy program bạn không thể làm cho Property Sorted của Listbox thay đổi.
Giả dụ ta muốn sort các Items của một Listbox khi cần. Vậy thì ta làm sao? Giải pháp rất đơn giản. Bạn tạo một Listbox tên lstTemp chẳng hạn. Cho nó Property Visible= False (để không ai thấy nó) và Property Sorted=True. Khi cần sort lstNames chẳng hạn, ta copy content của lstNames bỏ vào lstTemp, đoạn Clear lstNames rồi copy content (đã được sorted) của lstTemp trở lại lstNames.
Lưu ý là ta có thể AddItem vào một Listbox với Property Sorted=True, nhưng không thể xác định nhét Item vào trước hàng nào, vì vị trí của các Items do Listbox quyết định khi nó sort các Items.
Ta hãy cho thêm vào Form một CommandButton mới tên CmdSort và viết code cho Event Click của nó như sau:

Private Sub CmdSort_Click() 
   Dim i 
   lstTemp.Clear  ' Clear temporary Listbox
   ' Iterate though every item of lstNames
   For i = 0 To lstNames.ListCount - 1 
      ' Add the lstNames item to lstTemp
      lstTemp.AddItem lstNames.List(i) 
   Next 
   lstNames.Clear  ' Clear lstNames
   ' Iterate though every item of lstTemp
   For i = 0 To lstTemp.ListCount - 1 
      ' Add the lstTemp item to lstNames
      lstNames.AddItem lstTemp.List(i) 
   Next 
   lstTemp.Clear  ' Tidy up - clear temporary Listbox
End Sub 

Nhân tiện, ta muốn có option để sort các tên theo FirstName hay Surname. Việc nầy hơi rắc rối hơn một chút, nhưng nguyên tắc vẫn là dùng cái sorted Listbox vô hình tên lstTemp.
Bạn hãy đặt lên phía trên lstName hai cál Labels mới tên lblFirstName và lblSurName và cho chúng Caption “FirstName” và “SurName”.
Từ đây ta Load file “MyList.txt” vào lstNames bằng cách Click button CmdLoad chớ không Edit Property List của lstNames để enter Items lúc design nữa. Ngoài ra ta dùng dấu phẩy (,) để tách FirstName khỏi SurName trong mỗi tên chứa trong file MyList.txt. Content của file MyList.txt bây giờ trở thành như sau:

Peter,Jones
Kevin,White
Sue,Rose
John,Smith
Trevor,Kennedy
Alan,Wright
Ron,Bruno

Ta sẽ sửa code trong Sub CmdLoad_Click lại để khi nhét tên vào lstNames, FirstName và SurName mỗi thứ chiếm 10 characters.
Ðể các chữ trong Items của lstNames sắp hàng ngay ngắn ta đổi Font của lstNames ra Courier New. Courier New là một loại Font mà chiều ngang của chữ m bằng chữ i, trong khi hầu hết các Fonts khác như Arial, Times Roman ..v.v. là Proportional Spacing, có nghĩa là chữ m rộng hơn chữ i.
Listing mới của Sub CmdLoad_Click trở thành như sau:

Private Sub CmdLoad_Click() 
   Dim i, Pos 
   Dim FileName, FileNumber, anItem 
   Dim sFirstName As String * 10  ' fixed length string of 10 characters
   Dim sSurName As String * 10  ' fixed length string of 10 characters
   ' Obtain Folder where this program's EXE file resides
   FileName = App.Path 
   ' Make sure FileName ends with a backslash
   If Right(FileName, 1) <> "\" Then FileName = FileName & "\" 
   FileName = FileName & "MyList.txt" 
   ' Obtain an available filenumber from the operating system
   FileNumber = FreeFile 
   ' Open the FileName as an input file , using FileNumber as FileHandle
   Open FileName For Input As FileNumber 
   lstNames.Clear  ' Clear the Listbox first
   ' Now read each line until reaching End-Of-File, i.e. no more data
   Do While Not EOF(FileNumber) 
      Line Input #FileNumber, anItem  ' Read a line from the Text file
      ' Now separate FirstName from SurName
      Pos = InStr(anItem, ",")  ' Locate the comma ","
      ' The part before "," is FirstName
      sFirstName = Left(anItem, Pos - 1) 
      sFirstName = Trim(sFirstName)  ' Trim off any unwanted blank spaces
      ' The part after "," is SurName
      sSurName = Mid(anItem, Pos + 1) 
      sSurName = Trim(sSurName)  ' Trim off any unwanted blank spaces
      lstNames.AddItem sFirstName & sSurName  ' Add this item to the bottom of lstNames
   Loop 
   Close FileNumber  ' Close the input file
End Sub 

Vì FirstName nằm ở bên trái của mỗi Item nên sort theo FirstName cũng giống như sort cả Item. Việc ấy ta đã làm bằng Sub CmdSort_Click rồi, do đó khi User click Label lblFirstName ta chỉ cần gọi CmdSort_Click như sau:

Private Sub lblFirstName_Click()
   CmdSort_Click
End Sub

Ðể sort theo SurName ta cần phải tạm thời để SurName qua bên trái của Item trước khi bỏ vào lstTemp. Ta thực hiện chuyện nầy bằng cách hoán chuyển vị trí của FirstName và SurName trong Item trước khi bỏ vào lstTemp. Sau đó, khi copy các Items từ lstTemp để bỏ vô lại lstNames ta lại nhớ hoán chuyển FirstName và SurName để chúng nằm đúng lại vị trí. Tức là, cái mánh của ta là muốn biết Item nào phải nằm ở đâu trong lstNames, chớ dĩ nhiên khi display mỗi Item đều có FisrtName bên trái. Code để sort tên theo SurName cũng giống như CmdSort_Add nhưng thêm thắt chút ít như sau:

Private Sub lblSurName_Click() 
   Dim i, anItem 
   Dim sFirstName As String * 10  ' fixed length string of 10 characters
   Dim sSurName As String * 10  ' fixed length string of 10 characters
   lstTemp.Clear  ' Clear temporary Listbox
   ' Iterate though every item of lstNames
   For i = 0 To lstNames.ListCount - 1 
      anItem = lstNames.List(i) 
      ' Identify FistName and SurName
      sFirstName = Left(anItem, 10) 
      sSurName = Mid(anItem, 11) 
      ' Swap FirstName/SurName positions before adding to lstTemp
      lstTemp.AddItem sSurName & sFirstName 
   Next 
   lstNames.Clear  ' Clear lstNames
   ' Iterate though every item of lstTemp
   For i = 0 To lstTemp.ListCount - 1 
      anItem = lstTemp.List(i) 
      ' Identify FistName and SurName
      sSurName = Left(anItem, 10)  ' SurName now is on the left
      sFirstName = Mid(anItem, 11) 
      ' Add FirstName/SurName in correct positions to lstNames
      lstNames.AddItem sFirstName & sSurName 
   Next 
   lstTemp.Clear  ' Tidy up - clear temporary Listbox
End Sub 


Các Items trong lstNames sorted theo SurName hiện ra như sau:

Nhân tiện đây ta sửa cái Sub CmdSave_Click lại một chút để Save Items theo sorted order mới nếu cần:

Private Sub CmdSave_Click() 
   Dim i, FileName, FileNumber, anItem 
   ' Obtain Folder where this program's EXE file resides
   FileName = App.Path 
   ' Make sure FileName ends with a backslash
   If Right(FileName, 1) <> "\" Then FileName = FileName & "\" 
   ' Call Output filename "MyList.txt"
   FileName = FileName & "MyList.txt" 
   ' Obtain an available filenumber from the operating system
   FileNumber = FreeFile 
   ' Open the FileName as an output file , using FileNumber as FileHandle
   Open FileName For Output As FileNumber 
   ' Now iterate through each item of lstNames
   For i = 0 To lstNames.ListCount - 1 
      anItem = lstNames.List(i) 
      anItem = Trim(Left(anItem, 10)) & "," & Trim(Mid(anItem, 11)) 
      ' Write the List item to file. Make sure you use symbol # in front of FileNumber
      Print #FileNumber, anItem 
   Next 
   Close FileNumber  ' Close the output file
End Sub 


Bạn có thể download chương trình nầy (SortedList.zip) để có luôn cả project.
Trong bài tới ta sẽ học thêm các áp dụng khác của ListBox.


Chương Tám – Tự tạo Object

Từ trước đến giờ, ta lập trình VB6 bằng cách thiết kế các Forms rồi viết codes để xử lý các Events của những controls trên Form khi Users click một Button hay Listbox, .v.v..
Nói chung, cách ấy cũng hữu hiệu để triển khai, nhưng nếu ta có thể hưởng được các lợi ích sau đây thì càng tốt hơn nữa:

  1. Dùng lại được code đã viết trước đây trong một dự án khác

  2. Dễ nhận diện được một lỗi (error) phát xuất từ đâu

  3. Dễ triển khai một dự án lớn bằng cách phân phối ra thành nhiều dự án nhỏ

  4. Dễ bảo trì

Mỗi lần dùng lại code, nếu để y nguyên xi con là lý tưởng. Việc ấy được gọi là Reusability. Nói cho đúng ra, dùng lại được thật sự là khi ta chỉ cần dùng object code, đó là code đã được compiled rồi, tức là hoàn toàn không đụng đến source code. Vì hể cho phép User sửa source code là tạo cơ hội cho bugs xuất hiện, rồi lại phải debug một lần nữa.
Sự thách đố chính của việc triển khai một dự án phần mềm lớn là thực hiện đúng thời hạn (on time), không lố tài khóa (within budget) và dễ bảo trì (ease of maintenance). Muốn đạt được các mục tiêu ấy, ta phải triển khai nhanh và làm sao cho chương trình ít có bugs, dễ bảo trì.

Giả dụ bạn đứng ra tổ chức một đám cưới. Thử tưởng tượng biết bao nhiêu chuyện phải làm: từ danh sách quan khách, thiệp mời, ẩm thực, xe cộ, chụp hình, quay phim, văn nghệ cho đến thủ tục nghi lễ, tiếp tân, hoạt náo viên ..v.v.. Nếu chỉ một mình bạn lo thật không biết làm sao nhớ cho hết. Cũng may là nhà hàng sẽ đảm trách luôn cả việc in ấn thiệp mời, ban nhạc văn nghệ và cả hoạt náo viên. Thủ tục nghi lễ thì không ai qua được bác Sáu Đạt, và bác đã nhận lời mua quà cáp, lo về tiếp tân, xe cộ và thủ tục, nghi lễ. Bác cũng sẽ liên lạc với Mục sư chủ lễ để dặn chỗ nhà thờ và sắp đặt ngừơi giựt chuông và người đàn. Anh Tư Thông có người bạn làm chủ tiệm hình, nên anh nhận trách nhiệm mướn người lo chụp hình, quay phim. Như thế việc bạn tổ chức cái đám cưới nay rút lại chỉ còn soạn danh sách quan khách, các bài diễn văn, sắp chỗ ngồi và dặn chỗ cho cặp vợ chồng mới đi hưởng tuần trăng mật.

Sở dĩ bạn cảm thấy trách nhiệm tổ chức không nặng nề vì nhà hàng, bác Sáu Đạt và anh Tư Thông tự lo gánh vác các khâu rắc rối. Cái hay ở đây là những người nầy tự lo quyết định mọi chi tiết của những gì cần phải làm trong khâu của họ. Chỉ khi nào cần lắm, họ mới liên lạc để lấy ý kiến của bạn. Họ giống như những người thầu của bạn. Chắc bạn đã lưu ý rằng cái thí dụ tổ chức đám cưới nầy cho thấy nói chung muốn triển khai dự án lớn nào ta cần phải nhờ những người thầu giúp đở. Quả thật, đó là cách các quản trị viên những công trình đã làm từ xưa đến nay.

Bây giờ trở lại chuyện lập trình, phải chi ta có thể tổ chức cách triển khai dự án phần mềm giống như tổ chức cái đám cưới nói trên thì tốt quá. Thật ra, không phải các lý thuyết gia phần mềm không nghĩ đến chuyện ấy trước đây, nhưng để thực hiện được việc ấy người ta cần triển khai các phương tiện, dụng cụ thích hợp. Chỉ trong vòng 15 năm trở lại đây, việc ấy mới trở nên cụ thể qua các Operating Systems tinh vi, nhất là dùng Windows, và các ngôn ngữ lập trình như Eiffel, SmallTalk, C++ .v.v..

Lập trình theo hướng đối tượng (Object Oriented Programming)

Nói một cách nôm na, lập trình theo hướng đối tượng là thiết kế các bộ phận phần mềm của chương trình, gọi là Objects sao cho mỗi bộ phận có thể tự lo liệu công tác của nó giống như một người thầu ngoài đời vậy. Chắc có lẽ bạn sẽ hỏi thế thì các Sub hay Function mà bạn đã từng viết để xử lý từng giai đoạn trong chương trình có thể đảm trách vai trò của một thầu không?
Người thầu chẳng những có thể làm được công tác (Subs và Functions) gì mà còn chịu trách nhiệm luôn cả mọi thứ vật dụng cần thiết (data) cho việc ấy nữa.
Có một cách định nghĩa khác cho Object là một Object gồm có data structure và các Subs/Functions làm việc trên các data ấy. Thông thường, khi ta dùng Objects ít khi giám thị chúng, ngược lại nếu khi có sự cố gì thì ta muốn chúng báo cáo cho ta biết.

Trong VB6, các Forms, Controls hay ActiveX là những Objects mà ta vẫn dùng lâu nay. Lấy thí dụ như Listbox. Một Listbox tự quản lý các items hiển thị bên trong nó. Ta biết listbox List1 đang có bao nhiêu items bằng cách hỏi List1.ListCount. Ta biết item nào vừa mới được selected bằng cách hỏi List1.ListIndex. Ta thêm một item vào listbox bằng cách gọi method AddItem của List1, ..v.v.. Nói cho đúng ra, Object là một thực thể của một Class. Nếu Listbox là một Class thì List1, List2 là các thực thể của Listbox. Cũng giống như Bà Tư Cháo Lòng và Dì Sáu Bánh Tầm là các thực thể của Class Đầu Bếp.
Ngay cả một form tên frmMyForm mà ta viết trong VB6 chẳng hạn, nó cũng là một Class. Thường thường ta dùng thẳng frmMyForm như sau:

    frmMyForm.Show

Trong trường hợp nầy thật ra frmMyForm tuy là một Class nhưng được dùng y như một Object. Chớ nếu muốn, ta có thể tạo ra hai, ba Objects của Class frmMyForm cùng một lúc như trong thí dụ sau:

Dim firstForm As frmMyForm 
Dim secondForm As frmMyForm 
Set firstForm = New frmMyForm 
Set secondForm = New frmMyForm 
firstForm.Show 
secondForm.Show 

Trong thí dụ trên ta declare firstForm và secondForm là những Objects của Class frmMyForm. Sau đó ta làm nên (instantiate) các Objects firstForm và secondForm bằng statements Set… = New…
firstForm và secondForm còn được gọi là các instances của Class frmMyForm. Class giống như cái khuôn, còn Objects giống như những cái bánh làm từ khuôn ấy. Chắc bạn đã để ý thấy trong VB6 từ dùng hai từ Class và Object lẫn lộn nhau. Đều nầy cũng không quan trọng, miễn là bạn nắm vững ý nghĩa của chúng.

VB6 có yểm trợ Class mà ta có thể triển khai và instantiate các Objects của nó khi dùng. Một Class trong VB6 có chứa data riêng của nó, có những SubsFunctions mà ta có thể gọi. Ngoài ra Class còn có thể Raise Events, tức là báo cho ta biết khi chuyện gì xãy ra bên trong nó. Cũng giống như Event Click của CommandButton, khi User clicks lên button thì nó Raise Event Click để cho ta xử lý trong Sub myCommandButton_Click(), chẳng hạn. Classtrong VB6 không có hổ trợ Visual components, tức là không có chứa những controls như TextBox, Label .v.v.. Tuy nhiên, ta có thể lấy những control có sẵn từ bên ngoài rồi đưa cho Object của Class dùng.

Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu viết một Class. Bạn hãy mở một Project mới loại Standard EXE Visual Basic. Sau đó dùng Menu Command chọn Add Class Module:


Khi Add Class Module dialog hiện ra chọn Class Module và click Open.


Bạn sẽ thấy mở ra một khung trắng và Project Explorer với Properties Window. Trong Properties Window, hãy sửa Name property của Class thành clsBox như dưới đây:

Kế đó đánh vào những dòng code dưới đây, hay download source code của chương trình ClassBox.zip, trong đó có biểu diển cách dùng Class clsBox.

Option Explicit 
Private mX As Integer 
Private mY As Integer 
Private mWidth As Integer 
Private mHeight As Integer 

Public Property Let X(ByVal vValue As Integer) 
   mX = vValue 
End Property 

Public Property Get X() As Integer 
   X = mX 
End Property 

Public Property Let Y(ByVal vValue As Integer) 
   mY = vValue 
End Property 

Public Property Get Y() As Integer 
   Y = mY 
End Property 

Public Property Let Width(ByVal vValue As Integer) 
   mWidth = vValue 
End Property 

Public Property Get Width() As Integer 
   Width = mWidth 
End Property 

Public Property Let Height(ByVal vValue As Integer) 
   mHeight = vValue 
End Property 

Public Property Get Height() As Integer 
   Height = mHeight 
End Property 

Public Sub DrawBox(Canvas As Object) 
   Canvas.Line (mX, mY)-(mX + mWidth, mY + mHeight), , B 
End Sub 

Public Sub ClearBox(Canvas As Object) 
   Canvas.Line (mX, mY)-(mX + mWidth, mY + mHeight), Canvas.BackColor, B 
End Sub 

Class clsBox có 4 Properties: X, Y, Width và Height. Ta sẽ instantiate một Box từ clsBox. Mỗi Box có tọa độ (X,Y) và kích thước chiều rộng và chiều cao (width, height) của nó. Thật ra ta có thể dùng Public statement để declare các biến X, Y, Width và Height. Nhưng ở đây ta cố ý declare chúng là Private, dưới dạng mX, mY, mWidth và mHeight. Khi ta muốn thay đổi các trị số của chúng, ta sẽ dùng cùng một cách viết code như bình thường (thí dụ: myBox.X = 80 ). Nhưng khi chương trình xử lý assignment statement ấy, nó sẽ execute một loại method (giống như Sub) gọi là Property Let X (vValue). Ta thấy ở đây vValue được assigned cho mX (i.e. mX = vValue ), cái Private variable của X. Như thế công việc nầy cũng chẳng khác gì sửa đổi một Public variable X. Tuy nhiên, ở đây ta có thể viết thêm code trong Property Let X để nó làm gì cũng được.
Bạn có nhớ trong khi thiết kế một Label, mỗi lần bạn dùng Property Window để edit Font size, forcolor hay backcolor thì chẳng những các properties ấy của Label thay đổi, mà kết quả của sự thay đổi được có hiệu lực ngay lập tức, nghĩa là Label được hiển thị trở lại với trị số mới của property. Đó là vì trong method Property có cả code bảo Label redisplay.
Ngược lại, khi ta dùng property X của Object myBox, không phải ta chỉ đọc trị số thôi mà còn execute cả cái method Property Get X. Nói tóm lại, Property cho ta cơ hội để execute một method mỗi khi User đọc hay viết trị số variable ấy.
Thí dụ như nếu ta muốn kiểm soát để chỉ chấp nhận trị số tọa độ X mới khi nó không phải là số âm. Ta sẽ sửa Property Let X lại như sau:

Public Property Let X(ByVal vValue As Integer) 
   If (vValue >= 0) Then 
      mX = vValue 
   End If 
End Property 

Property có thể là Read Only hay Write Only. Nếu muốn một Property là Read Only thì ta không cung cấp Property Let. Nếu muốn một Property là Write Only thì ta không cung cấp Property Get. Ngoài ra nếu làm việc với Object, thay vì Data type thông thường, thì ta phải dùng Property Set, thay vì Property Let.
Thí dụ ta cho clsBox một Property mới, gọi là Font dùng object của class stdFont của VB6. Trong clsBox ta declare một Private variable mFont và viết một Property Set Font như sau:

Private mFont As StdFont 
Public Property Set Font(ByVal newFont As StdFont) 
   Set mFont = newFont 
End Property 

Ta sẽ dùng property Font của myBox (thuộc Class clsBox) như sau:

' Declare an object of Class StdFont of VB6
Dim myFont As StdFont 
Set myFont = New StdFont 
myFont.Name = "Arial" 
myFont.Bold = True 
Dim myBox As clsBox 
Set myBox = New clsBox 
Set myBox.Font = myFont  ' Call the Property Set method 

Class clsBox có hai Public Subs, DrawBoxClearBox. ClearBox cũng vẽ một box như DrawBox, nhưng nó dùng BackColor của màn ảnh (canvas), nên coi như xóa cái box có sẵn. Do đó, nếu muốn, bạn có thể sửa Sub DrawBox lại một chút để nhận một Optional draw color như sau:

Public Sub DrawBox(Canvas As Object, Optional fColor As Long) 
   If IsMissing(fColor) Then 
      Canvas.Line (mX, mY)-(mX + mWidth, mY + mHeight), , B 
   Else 
      Canvas.Line (mX, mY)-(mX + mWidth, mY + mHeight), fColor, B 
   End If 
End Sub 

Trong thí dụ trên, Optional parameter fColor được tested bằng function IsMissing. Nếu fColor là BackColor của canvas thì ta sẽ có hiệu quả của ClearBox.
Trong form chính của chương trình dùng để test clsBox, mỗi khi ta refer đến một object thuộc class clsBox, IDE Intellisense sẽ hiển thị các Properties và Subs/Functions của clsBox như trong hình dưới đây:


Trong chương trình nầy, mỗi khi ta click nút Draw thì một Box được instantiate, cho tọa độ X,Y và kích thước Width, Height, rồi được vẽ ra ngay trên form. Chữ Me trong code nói đến chính cái form frmClass.


Để cho chương trình thú vị hơn, khi user clicks nút Animate, ta sẽ cho một box màu đỏ chạy từ trái qua phải.
Khi user clicks nút Two Boxes ta sẽ vẽ hai boxes, hộp trong màu xanh, hộp ngoài màu đỏ, và cho chúng chạy từ trái sang phải. Ở đây ta biểu diễn cho thấy mình muốn instantiate bao nhiêu boxes từ clsBox cũng được, và dĩ nhiên mỗi box có một bộ properties với giá trị riêng của nó.


Ta có thể lập trình để cho Object báo cáo program chủ của nó khi có một biến cố (Event) xãy ra bên trong Class.
Ta thử declare một Event tên Draw trong clsBox, và viết code để mỗi khi Sub DrawBox executes thì Class sẽ Raise một event Draw.

Public Event Draw(X As Integer, Y As Integer) 
Public Sub DrawBox(Canvas As Object, Optional fColor As Long) 
   If IsMissing(fColor) Then 
      Canvas.Line (mX, mY)-(mX + mWidth, mY + mHeight), , B 
   Else 
      Canvas.Line (mX, mY)-(mX + mWidth, mY + mHeight), fColor, B 
   End If 
   RaiseEvent Draw(mX, mY) 
End Sub 


Bây giờ, trong frmClass thay vì chỉ declare Dim myBox as clsBox, ta sẽ declare Private WithEvents myBox as clsBox. Ngay sau đó, chữ myBox sẽ hiện ra trong danh sách các Object có hổ trợ Event của frmClass. Kế đó ta sẽ viết code để handle Event Draw của myBox, tức là ta cung cấp code cho Private Sub myBox_Draw (X as Integer, Y as Integer). Ở đây ta chỉ hiển thị một sứ điệp báo cáo một hộp vừa được vẽ ở đâu.


Khi chạy program, mỗi lần một clsBox object executes Sub DrawBox ta sẽ thấy frmClass display một message giống như dưới đây.


Nhớ rằng, ta declare một Object với WithEvents khi ta muốn handle các Events của nó. Trong thí dụ trên frmClass là chủ của myBox và nó handles Event Draw của myBox. Tương tự như vậy, ngay cả ở bên trong một Class, nếu Class ấy được giao cho một Object có thể Raise Events (thí dụ như TextBox, ListBox, Timer .v.v..), bạn cũng có thể declare Object ấy WithEvents để nó có thể handle Events của Object.
Trong thí dụ dưới đây ta viết codes nầy trong một Class đã được giao cho một Textbox khi form chính gọi Sub InitObject để đưa cho Object một TextBox:

Private WithEvents mTextBox As TextBox 

Public Sub InitObject(givenTextBox As TextBox) 
   Set mTextBox = givenTextBox 
End Sub 

Private Sub mTextBox_KeyPress(KeyAscii As Integer) 
   ' Place your code here to handle this event within the Class Object
End Sub 

Để học thêm về cách dùng Class, mời bạn đọc qua các Classes trong phần Source Code VB6 

 

Chương Chín – Debug

Bugs là những lỗi lầm của program mà ta phát hiện khi chạy nó. Debug là công việc loại tất cả những lỗi lầm trong chương trình để nó chạy êm xuôi trong mọi hoàn cảnh.
Thông thường muốn fix một cái bug nào trước hết ta phải tìm hiểu lý do khiến nó xuất hiện. Một khi đã biết được duyên cớ rồi ta sẽ nghĩ ra cách giải quyết. Nói chung, có hai loại bugs:

  1. Hoặc là program không làm đúng chuyện cần phải làm vì programmer hiểu lầm Specifications hay được cho tin tức sai lạc, hoặc là program bỏ sót chi tiết cần phải có. Trường hợp nầy ta giải quyết bằng cách giảm thiểu sự hiểu lầm qua sự nâng cấp khả năng truyền thông.

  2. Program không thực hiện đúng như ý programmer muốn. Tức là programmer muốn một đàng mà bảo chương trình làm một ngã vì vô tình không viết lập trình đúng cách. Trường hợp nầy ta giải quyết bằng cách dùng những Software Tools (kể cả ngôn ngữ lập trình) thích hợp, và có những quá trình làm việc có hệ thống.

Trong hãng xe hơi người ta dùng từ Quality Control để nói đến việc chế ra chiếc xe không có lỗi lầm gì cả. Để đạt mục tiêu ấy, chẳng những cần có người kiểm phẩm mà chính các nhân viên lấp ráp thận trọng để công việc chính của người kiểm phẩm là xác nhận kết quả tốt chớ không phải tìm lỗi lầm.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của một program như chức năng của program, cấu trúc của các bộ phận, kỹ thuật lập trình và phương pháp debug. Debug không hẳn nằm ở giai đoạn cuối của dự án mà tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố kể trước trong mọi giai đoạn triển khai.

Chức năng của chương trình (Program Specifications)

Dầu program lớn hay nhỏ, trước hết ta phải xác nhận rõ ràng và tỉ mỉ nó cần phải làm gì, bao nhiêu người dùng, mạng như thế nào, database lớn bao nhiêu, phải chạy nhanh đến mức nào .v.v..
Có nhiều chương trình phải bị thay đổi nữa chừng vì programmers hiểu lầm điều khách hàng muốn. Khổ nhất là lúc gần giao hàng mới khám phá ra có nhiều điểm trong chương trình khách muốn một đàng mà ta làm một ngã. Do đó trong sự liên hệ với khách hàng ta cần phải hỏi đi, hỏi lại, phản hồi với khách hàng nhiều lần điều ta hiểu bằng thư từ, tài liệu, để khách xác nhận là ta biết đúng ý họ trước khi xúc tiến việc thiết kế chương trình. Nếu sau nầy khách đổi ý, đó là quyền của họ, nhưng họ phải trả tiền thay đổi (variation).

Cấu trúc các bộ phận

Program nào cũng có một kiến trúc tương tự như một căn nhà. Mỗi bộ phận càng đơn giản càng tốt và cách ráp các bộ phận phải như thế nào để ta dễ thử. Trong khi thiết kế ta phải biết trước những yếu điểm của mỗi bộ phận nằm ở đâu để ta chuẩn bị cách thử chúng. Ta sẽ không hề tin bộ phận nào hoàn hảo cho đến khi đã thử nó, dù nó đơn sơ đến đâu.

Nếu ta muốn dùng một kỹ thuật gì trong một hoàn cảnh nào mà ta không biết chắc nó chạy không thì nên thử riêng rẽ nó trước. Phương pháp ấy được gọi là Prototype.

Ngoài ra, ta cũng nên kế hoạch cho những trường hợp bất ngờ, điển hình là bad data – khi user bấm lung tung hay database chứa rác rến.

Nếu chương trình chạy trong real-time (tức là data thu nhập qua Serial Comm Port, Data Acquisition Card hay mạng), bạn cần phải lưu ý những trường hợp khác nhau tùy theo việc gì xẩy ra trước, việc gì xẩy ra sau. Lúc bấy giờ Logic của chương trình sẽ tùy thuộc vào trạng thái (State) của data. Tốt nhất là nghĩ đến những Scenarios (diễn tiến của những hoàn cảnh) để có thể thử từng giai đoạn và tình huống.

Ngày nay với kỹ thuật Đối Tượng, ở giai đoạn thiết kế nầy là lúc quyết định các Data Structures (tables, records ..v.v.) và con số Forms với Classes. Nhớ rằng mỗi Class gồm có một Data Structure và những Subs/Functions/Properties làm việc (operate) trên data ấy. Data structure phải chứa đầy đủ những chi tiết (data fields, variables) ta cần. Kế đó là những cách chương trình process data. Subs/Functions nào có thể cho bên ngoài gọi thì ta cho nó Public, còn những Subs/Functions khác hiện hữu để phục vụ bên trong class thì ta cho nó Private.

Kỹ thuật lập trình

Căn bản của programmers và các thói quen của họ rất quan trọng. Nói chung, những người hấp tấp, nhảy vào viết chương trình trước khi suy nghĩ hay cân nhắc chính chắn thì sau nầy bugs lòi ra khắp nơi là chuyện tự nhiên.

Dùng Subs và Functions

Nếu ở giai đoạn thiết kế kiến trúc của chương trình ta chia ra từng Class, thì khi lập trình ta lại thiết kế chi tiết về Subs, Functions .v.v.., mỗi thứ sẽ cần phải thử như thế nào. Nếu ta có thể chia công việc ra từng giai đoạn thì mỗi giai đoạn có thể mà một call đến một Sub. Thứ gì cần phải tính ra hay lấy từ nơi khác thì có thể được thực hiện bằng một Function.

Thí dụ như công việc trong một tiệm giặt ủi có thể gồm có các bước sau:

  1. Nhận hàng

  2. Phân chia từng loại

  3. Tẩy

  4. Giặt

  5. Ủi

  6. Vô bao

  7. Tính tiền

  8. Giao hàng

Trong đó các bước 1,2,6 và 8 có thể là những Subs. Còn các bước 3,4,5 và 7 những Functions, thí dụ như khi ta giao cho Function Giặt một cái áo dơ ta sẽ lấy lại một cái áo sạch.

Nhớ rằng điểm khác biệt chính giữa một Sub và một Function là Function cho ta một kết quả mà không làm thay đổi những parameters ta đưa cho nó. Trong khi đó, dầu rằng Sub không cho ta gì một cách rõ ràng nhưng nó có thể thay đổi trị số (value) của bất cứ parameters nào ta pass cho nó ByRef. Nhắc lại là khi ta pass một parameter ByVal cho một Sub thì giống như ta đưa một copy (bản sao) của variable đó cho Sub, Sub có thể sữa đổi nó nhưng nó sẽ bị bỏ qua, không ảnh hưởng gì đến original (bản chính) variable.
Ngược lại khi ta pass một parameter ByRef cho một Sub thì giống như ta đưa bản chính của variable cho Sub để nó có thể sữa đổi vậy.

Do đó để tránh trường hợp vô tình làm cho trị số một variable bị thay đổi vì ta dùng nó trong một Sub/Function bạn nên dùng ByVal khi pass nó như một parameter vào một Sub/Function.

Thật ra, bạn có thể dùng ByRef cho một parameter pass vào một Function. Trong trường hợp đó dĩ nhiên variable ấy có thể bị sữa đổi. Điều nầy gọi là phản ứng phụ (side effect), vì bình thường ít ai làm vậy. Do đó, nếu bạn thật sự muốn vượt ngoài qui ước thông thường thì nên Comment rõ ràng để cảnh cáo người sẽ đọc chương trình bạn sau nầy.

Ngoài ra, mỗi programmer thường có một Source Code Library của những Subs/Functions ưng ý. Bạn nên dùng các Subs/Functions trong Library của bạn càng nhiều càng tốt, vì chúng đã được thử nghiệm rồi.

Đừng sợ Error

Mỗi khi chương trình có một Error, hoặc là Compilation Error (vì ta viết code không đúng văn phạm, ngữ vựng), hoặc là Error trong khi chạy chương trình, thì bạn không nên sợ nó. Hãy bình tĩnh đọc cái Error Message để xem nó muốn nói gì. Nếu không hiểu ngay thì đọc đi đọc lại vài lần và suy nghiệm xem có tìm được mách nước nào không. Nghề programming của chúng ta sẽ gặp Errors như ăn cơm bữa, nên bạn phải tập bình tĩnh đối diện với chúng.

Dùng Comment (Chú thích)

Lúc viết code nhớ thêm Comment đầy đủ để bất cứ khi nào trở lại đọc đoạn code ấy trong tương lai bạn không cần phải dựa vào tài liệu nào khác mà có thể hiểu ngay lập tức mục đích của một Sub/Function hay đoạn code.
Như thế không nhất thiết bạn phải viết rất nhiều Comment nhưng hễ có điểm nào khác thường, bí hiểm thì bạn cần thông báo và giải thích tại sao bạn làm cách ấy. Có thể sau nầy ta khám phá ra đoạn code có bugs; lúc đọc lại có thể ta sẽ thấy dầu rằng ý định và thiết kế đúng nhưng cách lập trình có phần thiếu soát chẳng hạn.

Tính ra trung bình một programmer chỉ làm việc 18 tháng ở mỗi chỗ. Tức là, gần như chắc chắn code bạn viết sẽ được người khác đọc và bảo trì ( debug và thêm bớt). Do đó, code phải càng đơn giản, dễ hiểu càng tốt. Đừng lo ngại là chương trình sẽ chạy chậm hay chiếm nhiều bộ nhớ, vì ngày nay computer chạy rất nhanh và bộ nhớ rất rẻ. Khi nào ta thật sự cần phải quan tâm về vận tốc và bộ nhớ thì điều đó cần được thiết kế cẩn thận chớ không phải dựa vào những tiểu xảo về lập trình.

Đặt tên các variables có ý nghĩa

Khổ nhất là làm việc với các variables có tên vắn tắt như K, L, AA, XY. Ta không có một chút ý niệm chúng là ai, hiện hữu để làm gì. Thay vào đó, nếu ta đặt các tên variables như NumberOfItems, PricePerUnit, Discount .v.v.. thì sẽ dễ hiểu hơn.

Một trong những bugs khó thấy nhất là ta dùng cùng một tên cho local variable (variable declared trong Sub/Function) và global variable (variable declared trong Form hay Basic Module). Local variable sẽ che đậy global variable cùng tên, nên nếu bạn muốn nói đến global variable trong hoàn cảnh ấy bạn sẽ dùng lầm local variable.

Dùng Option Explicit

Bạn nên trung tín dùng Option Explicit ở đầu mỗi Form, Class hay Module. Nếu có variable nào đánh vần trật VB6 IDE sẽ cho bạn biết ngay. Nếu bạn không dùng Option Explicit, một variable đánh vần trật được xem như một variable mới với giá trị 0 hay “” (empty string).

Nói chung bạn nên thận trọng khi assign một data type cho một variable với data type khác. Bạn phải biết rõ bạn đang làm gì để khỏi bị phản ứng phụ (side effect).

Desk Check

Kiểm lại code trước khi compile. Khi ta compile code, nếu không có error chỉ có nghĩa là Syntax của code đúng, không có nghĩa là logic đúng. Do đó ta cần phải biết chắc là code ta viết sẽ làm đúng điều ta muốn bằng cách đọc lại code trước khi compile nó lần đầu tiên. Công việc nầy gọi là Desk Check (Kiểm trên bàn). Một chương trình được Desk Checked kỹ sẽ cần ít debug và chứa ít bugs không ngờ trước. Lý do là mọi scenarios đã được tiên liệu chu đáo.

Soạn một Test Plan

Test Plan liệt kê tất cả những gì ta muốn thử và cách thử chúng. Khi thử theo Test Plan ta sẽ khám phá ra những bug và tìm cách loại chúng ra. Hồ sơ ghi lại lịch sử của Test Plan (trục trặc gì xẩy ra, bạn đã dùng biện pháp nào để giải quyết) sẽ bổ ích trên nhiều phương diện. Ta sẽ học được từ kinh nghiệm Debug và biết rõ những thứ gì trong dự án đã được thử theo cách nào.

Xử lý Error lúc Run time

Khi EXE của một chương trình viết bằng VB6 đang chạy, nếu gặp Error, nó sẽ hiển thị một Error Dialog cho biết lý do vắn tắc. Sau khi bạn click OK, chương trình sẽ ngưng. Nếu bạn chạy chương trình trong VB6 IDE, bạn có dịp bảo program ngừng ở trong source code chỗ có Error bằng cách bấm button Debug trong Error Dialog. Tiếp theo đó bạn có thể tìm hiểu trị số các variables để đoán nguyên do của Error. Do đó, nếu bạn bắt đầu cho dùng một program bạn viết trong sở, nếu tiện thì trong vài tuần đầu, thay gì chạy EXE của chương trình, bạn chạy source code trong VB6 IDE. Nếu có bug nào xẩy ra, bạn có thể cho program ngừng trong source code để debug.

Khi bạn dùng statement:
On Error Resume Next
thì từ chỗ đó trở đi, nếu chương trình gặp Error, nó sẽ bỏ qua (ignore) hoàn toàn. Điểm nầy tiện ở chỗ giúp chương trình EXE của ta tránh bị té cái ạch rồi biến mất, rất là “quê” với khách hàng. Nhưng nó cũng bất lợi là khi khách hàng cho hay họ gặp những trường hợp lạ, không giải thích được (vì Error bị ignored mà không ai để ý), thì ta cũng bí luôn, có thể không biết bắt đầu từ đâu để debug. Do đó, dĩ nhiên trong lúc debug ta không nên dùng nó, nhưng trước khi giao cho khách hàng bạn nên cân nhắc kỹ trước khi dùng.

Dùng Breakpoints

Cách hay nhất để theo dõi execution của program là dùng Breakpoint để làm cho program ngừng lại ở một chỗ ta muốn ở trong code, rồi sau đó ta cho program bước từng bước. Trong dịp nầy ta sẽ xem xét trị số của những variables để coi chúng có đúng như dự định không.

Bạn đoán trước execution sẽ đi qua chỗ nào trong code, chọn một chỗ thích hợp rồi click bên trái của hàng code, chỗ dấu chấm tròn đỏ như trong hình dưới đây:

Nếu bạn click lên dấu chấm tròn đỏ một lần nữa thì là hủy bỏ nó. Một cách khác để đặt một breakpoint là để editor cursor lên hàng code rồi bấm F9. Nếu bạn bấm F9 lần nữa khi cursor nằm trên hàng đó thì là hủy bỏ break point.

Lúc program đang dừng lại, bạn có thể xem trị số của một variable bằng cách để cursor lên trên variable ấy, tooltip sẽ hiên ra như trong hình dưới đây:

Có một số chuyện khác bạn có thể làm trong lúc nầy. Bạn có thể nắm dấu chấm tròn đỏ kéo (drag) nó ngược lên một hay nhiều hàng code để nó sẽ execute trở lại vài hàng code. Bạn cho program execute từng hàng code bằng cách bấm F8. Menu command tương đương với nó là Debug | Step Into. Sẽ có lúc bạn không muốn program bước vào bên trong một Sub/Function mà muốn việc execute một Sub/Function như một bước đơn giản. Trong trường hợp đó, bạn dùng Menu command Debug | Step Over hay Shift-F8.

Nhớ là để cho program chạy lại bạn bấm F5, tương đương với Menu command Run | Continue.
Có khi bạn muốn program ngừng ở giữa một For Loop khi Iterator value có một trị số khá lớn. Nếu ta để sẵn một breakpoint ở đó rồi cứ bấm F5 nhiều lần thì hơi bất tiện. Có một mánh lới là dùng một IF statement để thử khi Iterator value có trị số ấy thì ta ngừng ở breakpoint tại statement Beep (thay gì statement Print ICounter) như trong hình dưới đây:

Muốn hủy bỏ mọi breakpoints bạn dùng Menu command Debug | Clear All Breakpoints.
Để tiện việc debug, bạn có thể dùng Debug Toolbar bằng cách hiển thị nó với Menu command View | Toolbars | Debug

VB6 IDE sẽ hiển thị Debug Toolbar như sau:


Dùng Immediate Window

Immediate Window cho phép ta execute những VB statement strong khi program đang dừng lại. Ta có thể dùng một Print statement để hiển thị trị số của một variable hay kết quả của một Function, gọi một Sub hay thay đổi trị số một variable trước khi tiếp tục cho chương trình chạy lại.

Để hiển thị Immediate Window, dùng Menu command View | Immediate Window.


Thay vì đánh “Print ICounter” bạn cũng có thể đánh “? ICounter”. Nhớ là mỗi VB Statement bạn đánh trong Immediate Window sẽ được executed ngay khi bạn bấm Enter. Bạn có thể dùng lại bất cứ VB statement nào trong Immediate Window, chỉ cần bấm Enter ở cuối hàng ấy.

Theo dấu chân chương trình (Tracing)

Đôi khi không tiện để ngừng program nhưng bạn vẫn muốn biết program đang làm gì trong một Sub. Bạn có thể để giữa code của một Sub/Function một statement giống như dưới đây:

Debug.Print Format ( Now,”hh:mm:ss “) & “(Sub ProcessInput) Current Status:” & Status để program hiển thị trong Immediate Window value của Status khi nó execute bên trong Sub ProcessInput lúc mấy giờ.

Có một cách khác là thay vì cho hiển thị trong Immediate Window bạn cho viết xuống (Log) vào trong một text file. Dưới đây là một Sub điển hình bạn có thể dùng để Log một Event message:

Sub LogEvent(ByVal GivenFileName, ByVal Msg As String, HasFolder As Boolean, IncludeTimeDate As Integer) 
   ' Append event message Msg to a text Logfile GivenFileName
   ' If GivenFileName is fullPathName then HasFolder is true
   ' IncludeTimeDate = 0 : No Time or Date
   '  = 1 : Prefix with Time
   '  = 2 : Prefix with Time and Date
   Dim FileNo, LogFileName, theFolder 
   If HasFolder Then 
      LogFileName = GivenFileName 
   Else 
      If Right(App.Path, 1) <> "\" Then 
         theFolder = App.Path & "\" 
      Else 
         theFolder = App.Path 
      End If 
      LogFileName = theFolder & GivenFileName 
   End If 
   FileNo = FreeFile 
   If Dir(LogFileName) <> "" Then 
      Open LogFileName For Append As FileNo 
   Else 
      Open LogFileName For Output As FileNo 
   End If 
   Select Case IncludeTimeDate 
   Case 0  ' No Time or Date
      Print #FileNo, Msg 
   Case 1  ' Time only
      Print #FileNo, Format(Now, "hh:nn:ss ") & Msg 
   Case 2  ' Date & Time
      Print #FileNo, Format(Now, "dd/mm/yyyy hh:nn:ss ") & Msg 
   End Select 
   Close FileNo 
End Sub 

Dùng Watch Window

Đôi khi bạn muốn program ngừng không phải ở một chỗ nào nhất định, nhưng khi trị số của một variable hay của một expression là bao nhiêu, có thể là bạn không biết tại sao một variable tự nhiên có một trị số như vậy. Câu hỏi: Ai là thủ phạm? . Thí dụ bạn muốn program ngừng lại khi ICounter = 15. Bạn có thể dùng Menu command Debug | Add Watch. VB6 IDE sẽ hiển thị dialog dưới đây. Bạn đánh ICounter = 15 vào textbox Expression và click option box Break When Value Is True trong hộp Watch Type. Làm như vậy có nghĩa là ta muốn program ngừng khi ICounter bằng 15.


Dùng Phương Pháp Triệt Khai (Elimination Method)

Có một phương pháp rất thông dụng khi debug là Comment Out những hàng code nghi ngờ để xem bug có biến mất không. Nó được gọi là Elimination Method. Nếu bug biến mất thì những hàng code đã được comment out là thủ phạm. Bạn có thể Comment Out một số hàng cùng một lúc bằng cách highlight các hàng ấy rồi click Comment Block trên Edit ToolBar.


Khi dùng Elimination Method bạn phải cân nhắc Logic của code bạn trong khi quyết định Comment Out những hàng nào, nếu không, đó là một phương pháp khá nguy hiểm.

Ngoài ra, Menu Command View | Locals Window liệt kê cho bạn trị số của tất cả variables trong một Sub/Function và View | Call Stack liệt kê thứ bậc các Sub gọi lần lượt từ ngoài vào trong cho đến vị trí code đang ngừng hiện thời.

 



Chương Mười – Dùng Menu

Menu trong Windows là nơi tất cả các commands của một program được sắp xếp thứ tự theo từng loại để giúp ta dùng dễ dàng.
Có hai loại menu ta thường gặp: drop-down (thả xuống) menu và pop-up (hiện lên) menu. Ta dùng drop-down menu làm Menu chánh cho chương trình. Thông thường nó nằm ở phía trên chóp màn ảnh. Nằm dọc theo chiều ngang là Menu Bar, nếu ta click lên một command trong Menu Bar thì program sẽ thả xuống một menu với những MenuItems nằm dọc theo chiều thẳng đứng. Nếu ta click lên MenuItem nào có dấu hình tam giác nhỏ bên phải thì program sẽ popup một Menu như trong hình dưới đây (khi ta click Format | Make Same Size):


Main Menu

Ta dùng Menu Editor để tạo hoặc sữa một Menu cho program. Menu thuộc về một Form. Do đó, trước hết ta select một Form để làm việc với Designer của nó (chớ không phải code của Form). Kế đó ta dùng Menu Command Tools | Menu Editor hay click lên icon của Menu Editor trên Toolbar để làm cho Menu Editor hiện ra.


Đầu tiên có một vệt màu xanh nằm trong khung trắng của Menu Editor, nơi sẽ hiển thị Caption của Menu Command đầu tiên của Form. Khi ta đánh chữ &File vào Textbox Caption, nó cũng hiện ra trên vệt xanh nói trên. Kế đó, bạn có thể đánh tên của Menu Command vào Textbox Name. Dù ta cho Menu Command một tên nhưng ta ít khi dùng nó, trừ trường hợp muốn nó visible/invisible (hiện ra/biến mất). Bình thường ta dùng tên của MenuItems nhiều hơn.


Để có một Menu như trong hình dưới đây ta còn phải edit thêm vào các MenuItems Open, Save, Close và Exit.


Hình dưới đây cho thấy tất cả các MenuItems của Menu Command File đều nằm thụt qua bên phải với bốn dấu chấm (….) ở phía trước. Khi ta click dấu tên chỉ qua phải thì MenuItem ta đang Edit sẽ có thêm bốn dấu chấm, tức là thụt một bậc trong Menu (Nested).

Tương tự như vậy, khi ta click dấu tên chỉ qua trái thì MenuItem ta đang Edit sẽ mất bốn dấu chấm, tức là trồi một bậc trong Menu.

Nếu muốn cho User dùng Alt key để xử dụng Menu, bạn đánh thêm dấu & trước character bạn muốn trong menu Caption. Thí dụ Alt-F sẽ thả xuống Menu của Menu Command File.

Nếu bạn đặt cho MenuItem &Open tên mnuOpen, thì khi bạn Click lên Caption nó trên Form trong lúc thiết kế, VB6 IDE sẽ hiển thị cái vỏ của Sub mnuOpen_Click(), giống như Sub cmdButton_Click() của một CommandButton:

Private Sub mnuOpen_Click()
    MsgBox "You clicked mnuOpen"
End Sub 

Trong thí dụ trên ta đánh thêm một Statement để hiển thị một message đơn giản “You clicked mnuOpen”. Bạn có thể đặt cho một MenuItem tên gì cũng được, nhưng người ta thường dùng prefix mnu để dễ phân biệt một menuItem Event với một CommandButton Event. Do đó, ta có những tên mnuFile, mnuOpen, mnuSave, mnuClose, mnuExit.

Cái gạch ngang giữa MenuItems Close và Exit được gọi là Menu Separator. Bạn có thể nhét một Menu Separator bằng cách cho Caption nó bằng dấu trừ ( – ).

Ngoài Alt key ta còn có thể cho User dùng Shortcut của menuItem. Để cho MenuItem một Shortcut, bạn chọn cho nó một Shortcut từ ComboBox Shortcut trong Menu Editor.
Trong hình dưới đây ta chọn Ctrl+O cho mnuOpen.


By default, menuItem được Enabled và Visible. Lúc thiết kế bạn có thể cho MenuItem giá trị khởi đầu của Enabled và Visible bằng cách dùng Checkboxes Enabled và Visible.
Trong khi chạy program (at runtime), bạn cũng có thể thay đổi các values Enabled và Visible như sau:

mnuSave.Enabled = False 
mnuOpen.Visible = False 

Khi một MenuItem có Enabled=False thì nó bị mờ và user không dùng được.

Bạn dùng các dấu mũi tên chỉ lên và xuống để di chuyển MenuItem đã được selected lên và xuống trong danh sách các MenuItems. Bạn dùng button Delete để hủy bỏ MenuItem đã được selected, Insert để nhét một MenuItem mới ngay trên MenuItem đã được selected và Next để chọn MenuItem ngay dưới MenuItem đã được selected.


Pop-up Menu

Đối với User, đang khi làm việc với một Object trong Windows tiện nhất là ta có thể làm hiển thị Context Menu (Menu áp dụng cho đúng tình huống) bằng một Mouse click. Thông thường đó là Right Click và cái Context Menu còn được gọi là Pop-up Menu. Chính cái Pop-Up menu thật ra là Drop-down menu của một Menu Bar Command. Bình thường Menu Bar Command ấy có thể visible hay invisible (tàn hình).

Trong hình dưới đây, khi User Right click trên Form, mnuEdit sẽ hiện lên. Nếu bình thường bạn không muốn cho User dùng nó trong Main Menu thì bạn cho nó invisible:


Code làm cho Popup menu hiện lên được viết trong Event Mousedown của một Object mà tình cờ ở đây là của chính cái Form:

Private Sub Form_MouseDown(Button As Integer, Shift As Integer, X As Single, Y As Single) 
   ' Popup the Edit Menu if User clicked the Right Button of the Mouse
   If Button = vbRightButton Then 
      PopupMenu mnuEdit 
   End If 
End Sub 

Ngay cả khi bạn muốn cho mnuEdit bình thường là invisible, bạn cũng nên để cho nó visible trong lúc đầu để tiện bỏ code vào dùng để xử lý Click Events của những MenuItems thuộc về mnuEdit như mnuCopy, mnuCut và mnuPaste.

Chứa menu Settings trong Registry

Giả tỉ program bạn cho User một Option WordWrap như dưới đây:


Bạn muốn Program nhớ Option mà User đã chọn, để lần tới khi User khởi động program thì Option WordWrap còn giữ nguyên giá trị như cũ.

Cách tiện nhất là chứa value của Option WordWrap như một Key trong Registry. Registry là một loại cơ sở dữ liệu đặc biệt của Windows Operating System dùng để chứa những dữ kiện liên hệ đến Users, Hardware, Configurations, ActiveX Components ..v.v. dùng trong computer. Trong Registry, data được sắp đặt theo từng loại theo đẳng cấp. Bạn có thể Edit trực tiếp trị số các Keys trong Registry bằng cách dùng Registry Editor.


Trong program nầy ta cũng nhân tiện bắt program nhớ luôn vị trí của Form khi program ngừng lại, để lần tới khi User khởi động program thì program sẽ có vị trí lúc đầu giống y như trước.

Ta sẽ dùng Sub SaveSetting để chứa Checked value của mnuWordWrap và Left, Top của Form. Code ấy ta sẽ để trong Sub Form_QueryUnload vì nó sẽ được executed trước khi Form Unload.

Private Sub Form_QueryUnload(Cancel As Integer, UnloadMode As Integer) 
   SaveSettings 
End Sub 

Private Sub SaveSettings() 
   ' Save Location of the form
   SaveSetting App.Title, "Location", "Left", Me.Left 
   SaveSetting App.Title, "Location", "Top", Me.Top 
   ' Save the setting of WordWrap in menu
   SaveSetting App.Title, "Settings", "WordWrap", mnuWordWrap.Checked 
End Sub 

App.Title là Tựa đề của program. Thông thường nó là tên của VB Project, nhưng bạn có thể sữa nó trong Project Property Dialog (Tab Make) :


Khi chứa value của một thứ gì (ta gọi là Key) vào Registry bạn có thể sắp đặt cho nó nằm trong Section nào tùy ý. Ở đây ta đặt ra hai Sections tên Location để chứa Top,Left của Form và tên Settings để chứa Key mnuWordWrap.Checked.

Muốn cho program có các giá trị của Keys chứa trong Registry khi nó khởi động ta chỉ cần dùng Function GetSetting trong Sub Form_Load để đọc vào từ Registry như dưới đây:

Private Sub Form_Load() 
   ' Initialise Location of the form by reading the Settings from the Registry
   Me.Left = Val(GetSetting(App.Title, "Location", "Left", "0")) 
   Me.Top = Val(GetSetting(App.Title, "Location", "Top", "0")) 
   ' Initialise setting of WordWrap in the menu
   mnuWordWrap.Checked = ( GetSetting(App.Title, "Settings", "WordWrap", "False") = "True" )
End Sub 

Lúc đầu khi chưa có gì trong Registry thì “0” (string “0” được converted bởi Val ra 0) là default value cho Left và Top, còn “False” là default value của mnuWordWrap.Checked.

Ngoài ra ta cũng muốn program nhớ tên của ba Files User dùng gần đây nhất. Tức là trong Drop-down của Menu Command File sẽ có MenuItem Recent Files để hiển thị từ một đến ba tên Files, cái mới nhất nằm trên hết. Trước hết, ta cần tạo ra 3 SubmenuItem có cùng tên mnuRFile nhưng mang Index bằng 0,1 và 2 (bạn đánh vào Textbox Index). Ta sẽ dùng Captions của chúng để hiển thị tên các Files. Lúc chưa có Filename nào cả thì MenuItem Recent Files sẽ bị làm mờ đi (tức là mnuRecentFiles.Enabled = False ).

Ta sẽ chứa tên các Files như một String trong Section Settings của Registry. Ta phân cách tên các Files bằng delimiter character |. Thí dụ: “LattestFileName.txt|OldFileName.txt|OldestFilename.txt”
Mỗi lần User Open một File ta sẽ thêm tên File ấy vào trong Registry và bất cứ lúc nào chỉ giữ lại tên của 3 Files mới dùng nhất.


Dưới đây là code dùng để thêm tên File mới dùng nhất vào Registry:

Private Sub mnuOpen_Click() 
   ' Initialise Folder in Common Dialog
   CommonDialog1.InitDir = App.Path 
   ' Launch the dialog
   CommonDialog1.ShowOpen 
   ' Save the Filename in the Registry, using Object myRecentFiles
   myRecentFiles.AddFile CommonDialog1.FileName 
End Sub 

Code dùng trong Sub Form_Load để đọc tên RecentFiles và hiển thị trong Menu:

'
   Set myRecentFiles = New clsRecentFiles 
   ' Pass the form handle to it
   ' This effectively loads the most recently used FileNames to menu
   myRecentFiles.Init Me 


Ta sẽ dùng một Class tên clsRecentFiles để đặc biệt lo việc chứa tên Files vào Registry và hiển thị tên các Files ấy trong Menu. Bên trong clsRecentFiles ta cũng dùng clsString, là một Class giúp ta ngắt khúc String trong Registry ra tên của các Files dựa vào chỗ các delimiter character |.

' Author: Le Duc Hong http://www.vovisoft.com
' Class Name: clsRecentFiles
' This Class saves the most Recent FileNames used in the Registry in form of
' a String delimited by |.
' Up to MaxFiles Filenames maybe stored.
' You need to pass the Form that contains the menu to it.
' The assumption is that you have created an array of MenuItems named mnuRFile
' to display the FileNames
'
Const MaxFiles = 3  ' Maximum number of FileNames to remember
Private myForm As Form 
Private RecentFiles As clsString 
Public Sub Init(TForm As frmMenu) 
   Set myForm = TForm 
   Set RecentFiles = New clsString 
   ' Read the Most Recent Filename String from the Registry
   RecentFiles.Text = GetSetting(App.Title, "Settings", "RecentFiles", "") 
   ' Assign the Delimiter character and tokennise the String (i.e. split it) into FileNames
   RecentFiles.Delimiter = "|" 
   UpdateMenu 
End Sub 

Public Sub AddFile(FileName As String) 
   ' Add the latest FileName to the list and update the Registry
   ' Prefix the FileName to the existing MostRecentFileName String
   RecentFiles.Text = FileName & "|" & RecentFiles.Text 
   ' Discard the oldest FileNames if the total number is greater than MaxFiles
   If RecentFiles.TokenCount > MaxFiles Then 
      Dim TStr As String 
      Dim i As Integer 
      ' Reconstitute the String that contains only the most recent MaxFiles FileNames
      For i = 1 To MaxFiles 
         TStr = TStr & RecentFiles.TokenAt(i) & "|" 
      Next 
      ' Remove the last delimiter character on the right
      RecentFiles.Text = Left(TStr, Len(TStr) - 1) 
   End If 
   ' Update the String in the Registry
   SaveSetting App.Title, "Settings", "RecentFiles", RecentFiles.Text 
   UpdateMenu 
End Sub

Private Sub UpdateMenu() 
   ' Display the most recent Filenames in the menu
   Dim i As Integer 
   ' If there is no FileNames to display then disable the MenuItem entry
   If RecentFiles.TokenCount = 0 Then 
      myForm.mnuRecentFiles.Enabled = False 
      Exit Sub 
   Else 
      ' Otherwise enable the MenuItem entry
      myForm.mnuRecentFiles.Enabled = True 
   End If 
   ' Assign FileName to Caption of mnuRFile array and make the MenuItem elements visible
   For i = 1 To RecentFiles.TokenCount 
      myForm.mnuRFile(i - 1).Caption = RecentFiles.TokenAt(i)  ' Assign to Caption
      myForm.mnuRFile(i - 1).Visible = True  ' Make the MenuItem visible
      If i = MaxFiles Then Exit For  ' This line maybe unnecessary
   Next 
   ' Make the rest of the MenuItem array mnuRFile invisible if there are less than MaxFiles
   If RecentFiles.TokenCount < MaxFiles Then 
      For i = RecentFiles.TokenCount To MaxFiles - 1 
         myForm.mnuRFile(i).Visible = False 
      Next 
   End If 
End Sub 

Bạn có thể chạy Line Command RegEdit sau khi click Start | Run


để xem chi tiết của các Keys mà program đã chứa trong Sections LocationSettings của Folder HKEY_CURRENT_USER\Software\VB and VBA Program Settings\Menu


Bạn có thể download source code của program mẫu nầy kể cả class clsRecentFiles.

 

Chương Mười Một – Dùng Dialogs

Dialogs (giao thoại) được dùng để hiển thị tin tức và nhận mouse hay keyboard input từ users tùy theo tình huống. Chúng được dùng để tập trung sự chú ý của users vào công tác đương thời của program nên rất hữu dụng trong các chương trình của Windows.

Có nhiều dạng Dialogs, mỗi thứ áp dụng cho một hoàn cảnh riêng biệt. Trong chương nầy ta sẽ bàn qua 4 loại Dialogs chính và nghiên cứu về khi nào và cách nào ta dùng chúng:

  1. Message Boxes

  2. Input Boxes

  3. Common Dialogs

  4. Custom Dialogs

Message Boxes

Message Boxes được dùng để nhắc nhở user một chuyện gì, và đòi hỏi một phản ứng nào đó từ user. Thí dụ như khi ta chấm dứt program MSWord mà chưa lưu trử hồ sơ thì MSWord sẽ nhắc ta lưu trử nó bằng Dialog dưới đây:


Trong trường hợp nầy user có thể click một trong 3 buttons. Nếu click Yes thì sẽ xúc tiến việc lưu trử hồ sơ trước khi kết thúc program MSWord. Nếu click No thì MSWord sẽ lặng lẽ kết thúc. Nếu click Cancel thì có nghĩa user đổi ý việc chấm dứt program và trở lại tiếp tục dùng MSWord.

Ta dùng routine MsgBox để hiển thị Message Box như coding trong hình dưới đây:

Parameter (thông số) thứ nhất của MsgBox là text message Close the program down?, parameter thứ nhì là tập hợp của icon (vbQuestion) và số buttons (vbOKCancel) bằng cách cộng hai constants: vbQuestion + vbOKCancel (hai buttons OK và Cancel), parameter thứ ba là title (tiêu đề) của Dialog.

Trong thí dụ MSWord bên trên Constant của icon và buttons là vbExclamation + vbYesNoCancel (ba buttons Yes, No và Cancel).

Ta chọn số và loại buttons theo bảng dưới đây:

Constant

Các buttons

vbOKOnly

OK

vbOKCancel

OK   Cancel

vbYesNo

Yes   No

vbRetryCancel

Retry   Cancel

vbYesNoCancel

Yes   No   Cancel

vbAbortRetryIgnore

Abort   Retry   Ignore

Constant của các icons ta có thể dùng là vbCritical, vbQuestion, vbExclamationvbInformation.

Khi một Message Box được mở ra, cả program ngừng lại và đợi user phản ứng. Ta nói Message Box được hiển thị trong Modal Mode, nó dành mọi sự chú ý và tạm ngưng các execution khác trong cùng program. Sau khi user click một button, Message Box sẽ biến mất và program sẽ tiếp tục chạy từ hàng code ngay dưới hàng MsgBox.

Trong thí dụ trên ta dùng MsgBox như một Sub, nhưng ta cũng có thể dùng MsgBox như một Function để biết user vừa mới click button nào. Function MsgBox returns một value (trả về một giá trị) mà ta có thể thử biết để theo đó thi hành. Thí dụ như:

Private Sub CmdPrompt_Click() 
   Dim ReturnValue As Integer 
   ReturnValue = MsgBox("Close the program down", vbQuestion + vbOKCancel, "Exit Program") 
   Select Case ReturnValue 
   Case vbOK 
      MsgBox "You clicked OK" 
   Case vbCancel 
      MsgBox "You clicked Cancel" 
   End Select 
End Sub 

Các trị số Visual Basic intrinsic constants mà Function MsgBox returns là:

Trị số

Tên

Const

1

OK

vbOK

2

Cancel

vbCancel

3

Abort

vbAbort

4

Retry

vbRetry

5

Ignore

vbIgnore

6

Yes

vbYes

7

No

vbNo

Bạn có thể hiển thị Text message trong Message Box thành nhiều hàng bằng cách dùng Constant vbCrLf (CarriageReturn và LineFeed) để đánh dấu những chỗ ngắt khúc như sau:

MsgBox "This is the first line" & vbCrLf & " followed by the second line" 

Nếu bạn thấy mình thường dùng MsgBox với cùng một icon và những buttons, nhưng có Text message khác nhau, bạn có thể viết một Global Subroutine trong .BAS module để dùng lại nhiều lần. Thí dụ bạn có một Global Sub như sau:

Public Sub DisplayError(ByVal ErrMess As String ) 
   MsgBox ErrMess, vbCritical + vbOKOnly, "Error" 
End Sub 

Mỗi lần muốn hiển thị một Error message bạn chỉ cần gọi Sub DisplayError với Text message mà không sợ dùng lầm lẫn icon. Sau nầy muốn đổi cách hiển thị Error message chỉ cần edit ở một chỗ. Nếu user muốn bạn lưu trữ tất cả mọi errors xẩy ra lúc run-time, bạn chỉ cần thêm vài hàng code trong Sub DisplayError để viết Error message vào một text file.

Input Boxes

Với Message Boxes, user chỉ có thể click lên một button. Đôi khi ta muốn user đánh vào thêm một ít dữ kiện, trong trường hợp ấy ta có thể dùng Input Boxes.

Input Boxes giống giống Message Box, nhưng nó chuyên nhận input data từ user và không hiển thị một icon. Thí dụ:

Private Sub CmdGreeting_Click() 
   Dim strReply As String 
   strReply = InputBox$("Please enter your name", "What 's your name?", "John", 2000, 1000)
   MsgBox "Hi " & strReply & ", it 's great to meet you!", vbOKOnly, "Hello"
End Sub 

Để ý các parameters của Function InputBox$. Parameter thứ nhất là Text message, parameter thứ hai là Title của Dialog, parameter thứ ba là Default Input Value. Đây là value được hiển thị sẵn trong Input Box khi nó xuất hiện, nếu đó là input user thường đánh vào thì user chỉ cần click nút OK là đủ. Hai parameters cuối cùng là Optional (nhiệm ý, có cũng được, không có cũng không sao). Nó là X,Y coordinates của Input Box trong đơn vị twips. Hệ thống tọa độ lấy góc trên bên trái làm chuẩn với X=0, Y=0.


Input Box có hai dạng Functions:

  • InputBox$ – returns một String đàng hoàng

  • InputBox – returns một String nằm trong Variant variable

Nếu bạn click nút Cancel thì returned Value là empty string, bạn có thể test empty string để nhận diện trường hợp nầy.

Dưới đây là một thí dụ dùng Function InputBox:

Private Sub CmdFortuneTeller_Click() 
   Dim varValue As Variant 
   Dim intAge As Integer 
   varValue = InputBox("Please enter your age", "How old are you?", "18") 
   If IsNumeric(varValue) Then 
      intAge = Val(varValue) 
      If intAge < 20 Then 
         MsgBox "You are a young and ambitious person", vbOKOnly, "Observation" 
      Else 
         MsgBox "You are a matured and wise person", vbOKOnly, "Observation" 
      End If 
   Else 
      MsgBox "Oh oh! - please type your age!", vbCritical + vbOKOnly, "Input Error" 
   End If 
End Sub 

Khi nào nên dùng Input Boxes

Mặc dầu Input Boxes rất dễ dùng, trên thực tế rất ít khi ta dùng nó vì những lý do sau đây:

  • Ta không thể làm gì được trong lúc user input data, phải đợi sau khi user click OK thì mới bắt đầu xử lý input textstring. Ngược lại nếu ta dùng một Textbox trong một Form thông thường, ta có thể code trong các Event handlers của Events KeyPress hay Change để kiểm soát các keystrokes của user.

  • Input Boxes chỉ cho ta đánh vào một text string duy nhất. Nhiều khi ta muốn user đánh vào nhiều thứ nên cần phải có một form riêng.

  • Sau cùng, Input Boxes xem không đẹp mắt. Program dùng Input Boxes có vẻ như không chuyên nghiệp, do đó ta cần phải dùng Custom Dialogs.

Common Dialogs

Bạn có để ý thấy hầu như mọi programs trong Windows đều có cùng những dialogs để Open và Save files ? Và hầu như tất cả programs đều có cùng dialogs để chọn màu, font chữ hay để in ? Đó là vì các Dialogs thông dụng ấy thuộc về Common Dialog Library của MSWindows và cho phép các program gọi.

Muốn dùng các Dialogs ấy trong VB6 ta phải reference Comdlg32.ocx bằng IDE Menu command Project | Components… rồi chọn và Apply Microsoft Common Dialog Control 6.0.


Microsoft Common Dialog Control 6.0 cho ta sáu dạng Dialogs tùy theo gọi Method nào:

Tên

Method

Open File

ShowOpen

Save File

ShowSave

Color

ShowColor

Font

ShowFont

Print

ShowPrinter

Help

ShowHelp

Open và Save File Dialogs

Bạn hãy mở một Project mới với một button tên CmdOpen trong Form1 và đánh vào code sau đây cho Sub CmdOpen_Click:

Private Sub CmdOpen_Click() 
   On Error GoTo DialogError 
   With CommonDialog1 
      .CancelError = True  ' Generate Error number cdlCancel if user click Cancel
      .InitDir = "E:\VB6"   ' Initial (i.e. default ) Folder   
      .Filter = "Executables (*.exe) | *.exe| Batch Files (*.bat)| *.bat" 
      .FilterIndex = 1  ' Select ""Executables (*.exe) | *.exe" as default
      .DialogTitle = "Select a program to run" 
      .ShowOpen   ' Lauch the Open Dialog
      MsgBox "You selected " & .FileName, vbOKOnly + vbInformation, "Open Dialog" 
   End With 
   Exit Sub 
DialogError: 
   If Err.Number = cdlCancel Then 
      MsgBox "You clicked Cancel!", vbOKOnly + vbInformation, "Open Dialog" 
      Exit Sub 
   Else 
      MsgBox "Error in Dialog's use: " & Err.Description, vbOKOnly + vbCritical, "Error"
      Exit Sub 
   End If 
End Sub 


Hãy chạy program ấy và click button Open, program sẽ hiển thị error message dưới đây:


Đó là vì ta quên bỏ một Microsoft Common Dialog Control 6.0 vào Form1. Vậy bạn hãy doubleclick icon của nó trong ToolBox. Bây giờ hãy chạy program lại và click button Open để hiển thị Open Dialog.


Bạn có thể chọn folder nào tùy ý bằng cách di chuyển từ folder nầy qua folder khác hay thay đổi disk drive. Nếu bạn click vào bên phải của combobox File of type, nó sẽ dropdown để cho thấy bạn có thể chọn một trong hai loại Files như liệt kê trong statement:

      .Filter = "Executables (*.exe) | *.exe| Batch Files (*.bat)| *.bat" 


Sau khi chọn một Filename có sẵn hay đánh một tên vào File name textbox, bạn click Open. Sau đó, CommonDialog1.Filename sẽ chứa tên file bạn đã chọn hay đánh vào.


Vì ta cho .CancelError = True nên nếu user click Cancel program sẽ generate một Error số 32755 (cdlCancel). Ở đây ta bắt Error ấy bằng cách dùng On Error GoTo DialogError và thử Err.Number= cdlCancel để hiển thị Error message dưới đây:


Save Dialog cũng tương tự như Open Dialog, ta dùng method ShowSave để hiển thị nó.


Trong thí dụ trên ta định nghĩa các properties của CommonDialog1 bằng code. Bạn cũng có thể dùng Properties Windows để định nghĩa chúng như dưới đây:


Ngoài ra, bạn cũng có thể dùng các trang Properties của CommonDialog1 để định nghĩa Properties lúc thiết kế bằng cách right click Commondialog1 trên Form1 rồi chọn Properties:


Properties Pages Dialog sẽ hiển thị với Tab Open/Save As có sẵn lúc đầu, bạn có thể đánh các tin tức như sau:


Color Dialog

Color Dialog cho user một cách chọn màu rất dễ dùng. Ngoài những màu có sẵn, user có thể tự tạo ra một màu rồi cho nó thêm vào trong bảng màu được cung cấp, gọi là Windows Palette bằng cách click button Add to Custom Colors.


Bạn tạo ra một màu bằng cách click chỗ có màu theo ý trong bảng màu lớn hình vuông rồi nắm hình tam giác bên phải kéo lên, kéo xuống để thay đổi độ đậm của màu như hiển thị trong hộp vuông Color|Solid. Khi vừa ý với màu hiển thị, bạn click button Add to Custom Colors, màu ấy sẽ được cho thêm vào nhóm Custom Colors nằm phía dưới, bên trái.


Ta dùng method ShowColor để hiển thị Color Dialog. Sau khi user đã chọn một màu rồi, ta có thể trực tiếp assign nó cho property ForeColor hay BackColor của một control. Trong thí dụ dưới đây cái màu mà user vừa chọn được assigned cho background của picturebox Picture1:

Private Sub CmdSelectColor_Click() 
   On Error GoTo NoColorChosen 
   With CommonDialog1 
      .CancelError = True 
      ' Entire dialog box is displayed, including the Define Custom Colors section
      .Flags = cdlCCFullOpen 
      .ShowColor  ' Launch the Color Dialog
      Picture1.BackColor = .Color  ' Assign selected color to background of Picture1
      Exit Sub 
   End With 
NoColorChosen: 
   ' Get here if user clicks the Cancel button
   MsgBox "You did not select a color!", vbInformation, "Cancelled" 
   Exit Sub 
End Sub 

Bạn có thể download source code của program ColorDialog nầy.

Font Dialog

Font Dialog cho ta chọn Font cho màn ảnh hay printer và chọn màu để dùng cho chữ của Font. Ta dùng method ShowFont để hiển thị FontDialog. Các chi tiết trình bày trong Font Dialog tùy thuộc vào trị số của Flags như sau:

Constant

Trị số

Hiệu quả

cdlCFScreenFonts

1

Chỉ hiển thị các Fonts printer hổ trợ

cdlCFPrinterFonts

2

Chỉ hiển thị các Fonts của màn ảnh, chưa chắc tất cả đều được printer hổ trợ

cdlCFBoth

3

Hiiển thị các Fonts màn ảnh và printer

cdlCFScalableOnly

&H20000

Chỉ hiển thị các scalable Fonts như TrueType fonts mà bạn đã cài vào máy

Nếu bạn muốn cho user nhiệm ý để chọn màu thì thêm 256 vào trị số của Flags.


Dưới đây là code để cho user chọn Font và màu của Label1.

Private Sub CmdSelectFont_Click() 
   On Error GoTo NoFontChosen 
   CommonDialog1.CancelError = True 
   ' Causes the dialog box to list only the screen fonts supported by the system.
   CommonDialog1.Flags = cdlCFScreenFonts + 256  ' Add 256 to include Color option
   CommonDialog1.ShowFont  ' Launch the Font Dialog
   With Label1.Font 
      .Bold = CommonDialog1.FontBold 
      .Italic = CommonDialog1.FontItalic 
      .Name = CommonDialog1.FontName 
      .Size = CommonDialog1.FontSize 
      .Strikethrough = CommonDialog1.FontStrikethru 
      .Underline = CommonDialog1.FontUnderline 
   End With 
   Label1.ForeColor = CommonDialog1.Color 
   Label1.Caption = "Hello world!!!, this is a Font Dialog Demo" 
   Exit Sub 
NoFontChosen: 
   MsgBox "No font was chosen!", vbInformation, "Cancelled" 
   Exit Sub 
End Sub 

Chú ý: Nếu bạn quên cho Flags một trong những hằng số nói trên program sẽ cho một Error message như sau:


Bạn có thể download source code của program FontDialog nầy.

Print Dialog

Print Font cho ta một giao diện cũng giống như trong Microsoft Office để chọn những nhiệm ý về việc in. Với Print Dialog ta có thể chọn printer nào với những đặc tính nào bằng cách click button Properties hay button Preferences. Ta cũng có thể quyết định in từ trang nào đến trang nào của document và in bao nhiêu copies. Chỉ có điều phải lưu ý là nếu user dùng Print Dialog để chọn một Printer khác mà trong Print Dialog ta đã chọn Property PrinterDefault = True thì Printer ấy sẽ trở thành Default Printer và nó cũng sẽ có hiệu lực vĩnh viễn trong cả Windows cho đến khi user thay đổi lại.

Khác với Color và Font Dialogs, Print Dialog không đòi hỏi ta phải cho một trị số của Property Flags. Ta chỉ cần dùng Method ShowPrinter để hiển thị Print Dialog. Ba properties thường được dùng nhất sau khi user chọn các nhiệm ý của Print Dialog là Copies, FromPageToPage. Để cho user các default values của những properties nầy, bạn có thể để sẵn các trị số trước khi hiển thị Print Dialog.


Dưới đây là code mẫu dùng print Dialog:

Private Sub CmdSelectPrinter_Click() 
   With CommonDialog1 
      .FromPage = 1 
      .ToPage = 1 
      .Copies = 1 
      .ShowPrinter 
   End With 
End Sub 

Help Dialog

Ta dùng method ShowHelp để hiển thị các thông tin giúp đỡ, nhưng nhớ phải cho CommonDialog ít nhất trị số của các properties HelpFileHelpCommand.

Private Sub CmdHelp_Click() 
   CommonDialog1.HelpFile = "YourProgram.hlp" 
   CommonDialog1.HelpCommand = cdlHelpContents 
   CommonDialog1.ShowHelp 
End Sub 

Để biết thêm chi tiết về cách dùng ShowHelp, highlight chữ HelpContext trong source code VB6 rồi ấn phím F1 và chọn MsComDlg.

Custom Dialogs

Nhiều khi Message Box, Input Box hay các dạng Common Dialogs vẫn không thích hợp cho hoàn cảnh lập trình. Trong trường hợp ấy bạn có thể dùng một Form bình thường để làm thành một Dialog cây nhà, lá vườn. Nó hơi mất công hơn một chút, nhưng thứ nhất nó có những màu sắc giống như các Forms khác trong chương trình, và thứ hai ta muốn làm gì tùy ý. Chỉ có cái bất lợi là chương trình sẽ dùng nhiều tài nguyên hơn, nói thẳng ra là cần thêm một ít memory.

Sau đây ta thử triển khai một Login Form tổng quát, có thể dùng trong nhiều trường hợp. Khi khởi động, program nầy sẽ hiển thị một Login form yêu cầu user đánh vào tên và mật khẩu. Sau đó, nếu tên và mật khẩu hợp lệ thì cái Form chính của program mới hiện ra. Cách ta thực hiện là cho program khởi động với một Sub Main trong .BAS Module. Sub Main sẽ gọi Sub GetUserInfo (cũng nằm trong cùng Module) để hiển thị form frmLogin trong Modal mode để nó làm việc cùng một cách như Message Box, Input Box hay Common Dialogs.

Khi form frmLogin được dấu kín bằng statement Me.Hide thì execution trong Sub GetUserInfo sẽ tiếp tục để chi tiết điền vào các textboxes txtUserName và txtPassword được trả về local variables strUserName và strPassword. Mã nguồn của Sub Main và Sub GetUserInfo được liệt ra dưới đây:

Sub Main() 
   Dim strUserName As String 
   Dim strPassword As String 
   ' Call local Sub getUserInfo to obtain UserName and Password
   GetUserInfo strUserName, strPassword 
   If strUserName = "" Then 
      MsgBox "Login failed or aborted", vbInformation, "login Aborted" 
   Else 
      MsgBox "User " & strUserName & " logged in with password " & strPassword, vbInformation, "Login accepted" 
      ' Check UserName and Password here
      ' If valid password then show the Main form of the program which is implemented separately...
      ' frmMain.Show
   End If 
End Sub

Private Sub GetUserInfo(ByRef sUserName As String, ByRef sPassword As String) 
   ' Invoke frmLogin form in Modal mode
   frmLogin.Show vbModal 
   ' As soon as frmLogin is hidden, the execution gets here
   sUserName = frmLogin.txtUserName  ' assign the form's txtUserName to sUserName
   sPassword = frmLogin.txtPassword  ' assign the form's txtPassword to sPassword
   Unload frmLogin  ' Unload form frmLogin
End Sub 

Login form được hiển thị như dưới đây:


Sau khi user điền chi tiết và click OK, tạm thời ta chỉ hiển thị một thông điệp để xác nhận các chi tiết ấy.


Trong tương lai, bạn có thể viết thêm code để kiểm tra xem tên và mật khẩu có hiệu lực không. Có một vài chi tiết về form frmLogin để nó làm việc giống giống một Common Dialog:

  • Ta cho property BorderStyle của frmLogin là Fixed Dialog.

  • Ta cho Property PasswordChar của textbox txtPassword bằng “*” để khi user điền mật khẩu, ta chỉ thấy một hàng dấu hoa thị.

  • Ta cho Property StartupPosition của form là CenterScreen.

  • Property Default của button cmdOK là True để khi user ấn phím Enter trong form là coi như tương đương với click button cmdOK.

  • Tương tợ như thế, Property Cancel của button cmdCancel là True để khi user ấn phím Esc trong form là coi như tương đương với click button cmdCancel.

Tạm thời coding của event click của cmdOK và cmdCancel chỉ đơn giản như liệt kê dưới đây:

Private Sub CmdCancel_Click() 
   ' Clear txtUserName and txtPassword
   txtUserName = "" 
   txtPassword = "" 
   ' Hide the Form to get out of Modal mode
   Me.Hide 
End Sub 

Private Sub CmdOK_Click() 
   ' Hide the Form to get out of Modal mode
   Me.Hide 
End Sub 


Bạn có thể download source code của program CustomDialog nầy.

 

Chương Mười Hai – Dùng Đồ Họa (Phần I)

Tục ngữ Anh có câu: “Một hình ảnh đáng giá một ngàn chữ (a picture is worth a thousand words)”, ý nói khi ta dùng hình ảnh để diễn tả sẽ giúp người xem hiểu nhanh hơn khi ta chỉ có nói thôi.

Visual Basic 6 có cho ta một số phương tiện về đồ họa (graphics) để trang điểm cho các cửa sổ phong phú, thân thiện, dễ làm việc với, và thú vị. Dù rằng các phương tiện về đồ thị nầy không nhanh đủ cho ta viết những chương trình trò chơi (games) nhưng tương đối cũng đủ khả năng để đáp ứng các nhu cầu cần thiết thông thường.

Khi nói đến đồ họa, ta muốn phân biệt nó với Text thông thường. Thí dụ ta dùng Notepad để edit một bài thơ trong một cửa sổ. Trong lúc bài thơ đang được hiển thị ta có thể sửa đổi dễ dàng bằng cách dùng bàn phím để đánh thêm các chữ mới vào, dùng các nút Delete, Backspace để xóa các chữ. Đó là ta làm việc với Text.

Bây giờ, trong khi bài thơ còn đang hiển thị, ta dùng một chương trình Graphic như PhotoImpact Capture của ULead để chụp cái hình cửa sổ của bài thơ (active window) thành giống như một photo, thì ta có một Graphic. Sau đó, muốn sửa đổi bài thơ từ graphic nầy ta phải dùng một graphic editor như MSPaint, PaintShopPro,.v.v.. Các chữ trong hình cũng có cùng dạng graphic như ta thấy một photo, nên muốn edit phải dùng một cọ với màu sơn.

Dưới đây là graphic của một cửa sổ Notepad sau khi được thêm chữ g và dấu chấm hỏi ở cuối bằng cách dùng MSPaint.


Màu (color) và độ mịn (resolution)

Ta nói một tấm hình tốt vì nó có màu sắc sảo và rõ ràng. Bạn có còn nhớ trong ngày Lễ khai mạc Thế Vận Hội Moscow, người ta cho hiển thị nhiều hình rất hay bằng cách nhờ khán giả, trong một khu hình chữ nhật, mỗi người cầm đưa lên một tấm cạt-tông màu. Hàng ngàn tấm cạt-tông đưa lên ráp lại thành ra một hình tuyệt đẹp.

Một graphic trong Windows cũng gồm có nhiều đóm nhỏ, mỗi đóm, được gọi là một pixel, có khả nằng hiển thị 16, 256, … màu khác nhau.

Độ mịn (resolution)

Thông thường độ mịn (resolution) của màn ảnh ta dùng là 800×600, tức là chiều ngang có 800 pixels và chiều cao có 600 pixels. Sau nầy, để xem các hình rõ hơn ta còn dùng độ mịn 1028×768 với cạt SuperVGA và Monitor tốt. Ta nói cạt SuperVGA có đến 2MB RAM, tại sao phải cần đến 2MB để hiển thị graphic đẹp?

Nếu màu của mỗi pixel được biểu diễn bởi một byte dữ kiện thì với một byte ta có thể chứa một con số từ 0 đến 255. Người ta đồng ý với nhau theo một quy ước rằng số 0 tượng trưng cho màu đen, số 255 tượng trưng cho màu trắng chẳng hạn. Nếu độ mịn của màn ảnh là 1024×768 thì ta sẽ cần 1024×768=786432 bytes, tức là gần 0,8 MB.

Một byte có 8 bits. Đôi khi ta nghe nói 16 bit color, ý nói thay vì một byte, người ta dùng đến 2 bytes cho mỗi pixel. Như vậy mỗi pixel nầy có khả năng hiển thị 216 = 65536 màu khác nhau. Muốn dùng 16 bit color cho SuperVGA, ta cần phải có 1024x768x2 =1572864 bytes, tức là gần 1,6 MB. Đó là lý do tại sao ta cần 2MB RAM. Lưu ý là RAM của VGA (Vector Graphic Adapter) card không liên hệ gì với RAM của bộ nhớ computer.

Không ngờ các cụ Ăng-Lê ngày xưa đã biết Tin Học nên nói trước:”Một hình ảnh đáng giá một ngàn chữ”. Chữ word thời IBM gồm có 4 bytes, nên một màn ảnh đáng giá 400 ngàn chữ, như vậy các cụ không chính xác lắm, nhưng coi như đúng.

Nên nhớ rằng cùng một graphic hiển thị trên hai màn ảnh có cùng độ mịn, thí dụ như 800×600, nhưng kích thước khác nhau, thí dụ như 14 inches và 17 inches, thì dĩ nhiên hình trên màn ảnh 17 inches sẽ lớn hơn, nhưng nó vẫn có cùng một số pixels, có điều pixel của nó lớn hơn pixel của màn ảnh 14 inches.

Nói một cách khác, nếu ta dùng màn ảnh lớn hơn thì graphic sẽ lớn hơn nhưng không có nghĩa là nó rõ hơn. Muốn thấy rõ chi tiết, ta phải làm cho graphic có độ mịn cao hơn. Trở lại câu chuyện Thế Vận Hội Moscow, muốn có hình rõ hơn, thì trong cùng một diện tích, ta phải nhờ bà con ngồi xích lại gần nhau để khoảng đất chứa nhiều người hơn và mỗi người cầm một tấm cạt-tông nhỏ hơn.

Ta thay đổi Display Properties của một màn ảnh bằng cách right click lên desktop rồi select Properties, kế đó click Tab Settings rồi chọn Screen resolutionColor quality giống như hình dưới đây:


Khi ta tăng độ mịn của màn ảnh, các hình ảnh sẽ nhỏ lại vì kích thước của pixel được thu nhỏ lại. Do đó, ta có thể cho hiển thị nhiều thứ hơn trên desktop. Phẩm chất của các graphic vẫn không thay đổi, mặc dầu hình nhỏ hơn. Nhớ là muốn hình rõ hơn thì khi cấu tạo và chứa graphic, ta phải dùng một độ mịn cao. Giống như khi chụp hình, muốn hình đẹp ta cần cái máy chụp hình dùng phim lớn của thợ chuyên nghiệp và focus kỹ lưỡng, thay vì dùng máy rẽ tiền tự động, chỉ đưa lên là bấm chụp được.

Màu (color)

Khi ta dùng chỉ có một bit (chỉ có trị số 0 hay 1) cho mỗi pixel thì ta chỉ có trắng hay đen. Lúc ấy ta có thể dùng một byte (8 bits) cho 8 pixels. Dầu vậy, nếu độ mịn của graphic cao đủ, thì hình cũng đẹp. Thử xem các tuyệt tác photos trắng đen của Cao Đàm, Cao Lĩnh thì biết. Các máy Fax dùng nguyên tắc scan hình giấy cở A4 ra thành những pixels trắng đen rồi gởi qua đường dây điện thoại qua đầu kia để tái tạo lại hình từ những dữ kiện pixels.

Visual Basic 6 cho ta chỉ định một con số vào mỗi màu VB có thể hiển thị, hay chọn trực tiếp một màu từ Dialog. Có bốn cách:

  • Bạn chỉ định trực tiếp một con số hay chọn một màu từ cái Palette.

  • Bạn chọn một trong các hằng số định nghĩa sẵn trong VB, gọi là intrinsic color constants (intrinsic có nghĩa nôm na là cây nhà lá vườn hay in-built), chẳng hạn như vbRed , vbBlue. Danh sách của intrinsic color constants lấy từ VB6 online help được liệt kê dưới đây:

  • Dùng Function QBColor để chọn một trong 16 màu. Function QBColor xuất phát từ thời Quick Basic (QBasic) của Microsoft. QBsic là tiền thân của Visual Basic. Trong QBasic bạn có thể dùng các con số 1,2,3 .. để chỉ định các màu Blue, Green, Cyan , .v.v..Function QBColor giản tiện hóa cách dùng màu, user không cần phải bận tâm về cách trộn ba thứ màu căn bản Red, Green, Blue. Bạn viết code một cách đơn giản như:

    Dưới đây là trị số các màu ta có thể dùng với Function QBColor.

    Trị số

    Màu

    Trị số

    Màu

    0

    Black

    8

    Gray

    1

    Blue

    9

    Light Blue

    2

    Green

    10

    Light Green

    3

    Cyan

    11

    Light Cyan

    4

    Red

    12

    Light Red

    5

    Magenta

    13

    Light Magenta

    6

    Yellow

    14

    Light Yellow

    7

    White

    15

    Bright White

  • Dùng Function RGB để trộn ba màu Red, Green và Blue. Trong cái bảng liệt kê các intrinsic color constants phía trên, nếu để ý bạn sẽ thấy vbWhite(0xFFFFFF) là tổng số của vbRed(0x0000FF), vbGreen(0x00FF00) và vbBlue(0xFF0000). Một màu được biểu diễn bằng sự pha trộn của ba thành phần màu căn bản, mỗi màu bằng một byte có trị số từ 0 đến 255. 0 là không dùng màu ấy, 255 là dùng tối đa màu ấy.

    Hệ thống số ta dùng hằng ngày là Thập Phân. Trị số 0xFF của vbRed là con số 255 viết dưới dạng Thập lục phân (Hexadecimal hay Hex cho gọn và ở đây được đánh dấu bằng 0x trước con số để phân biệt với số Thập phân). Trong hệ thống số Hex ta đếm từ 0 đến 9 rồi A,B,C,D,E,F rồi qua số hàng thập lục 10, 11,.., 19, 1A, 1B, ..1E,1F,20,21..v.v. Tức là thay vì chỉ dùng 10 symbols từ 0 đến 9 trong Thập phân, ta dùng 16 symbols từ 0 đến F. Muốn biết thêm về hệ thống số Hex hãy đọc bài Cơ số Nhị Phân.

    Trong hình dưới đây là một thí dụ cho thấy màu xanh nhạt đã được chọn gồm ba thành phần Blue(0x990000= 153*256*256), Green(0xCC00= 204*256) và Red(0xFF= 255):

    Ghi chú: Bạn có thể dùng Windows Calculator để hoán chuyển số giữa các dạng Decimal, Binary và Hexadecimal. Chọn View|Scientific thay vì View|Standard.

Function RGB

Để áp dụng Function RGB, ta sẽ viết một chương trình VB6. Bạn hãy khởi động một chương trình VB6 mới, bỏ vào một Label tên Label1 với Caption Red và một Vertical Scroll tên VScroll1. Kế đó select cả hai Label1 và VScroll1 rồi Copy và Paste hai lần để là thêm hai cặp. Đổi Caption của hai Label mới nầy ra GreenBlue. Bây giờ ta có một Array ba Vertical Scrolls cùng tên VScroll1, với index là 0,1 và 2.

Đặt một PictureBox tên picColor vào bên phải ba cái VScrolls. Thêm một Label phía dưới, đặt tên nó là lblRGBValue, nhớ clear caption của nó, đừng có để chữ Label1 như dưới đây:

Bây giờ select cả ba VScrolls và edit value của property Max trong cửa sổ Properties thành 255, ý nói khi kéo cái bar của một VScroll1 lên xuống ta giới hạn trị số của nó từ Min là 0 đến Max là 255.

Chuyện chính ta phải làm là viết code để xử lý Event Change của các VScrolls. Vì chúng là một Array nên ta có thể dùng một Sub duy nhất để handle events đến từ cả ba VScrolls. Mỗi lúc một trong 3 VScrolls thay đổi trị số ta sẽ trộn ba màu Red, Green, Blue biểu diễn bởi trị số của 3 VScrolls thành màu BackColor của PictureBox picColor. Đồng thời ta cho hiển thị trị số của ba thành phần màu Red, Green và Blue trong Label lblRGBValue. Bạn hãy double click lên một trong 3 VScrolls rồi viết code như sau:

Private Sub VScroll1_Change(Index As Integer) 
   ' Use Function RGB to mix 3 colors VScroll1(0) for Red,
   ' VScroll1(1) for Green and VScroll1(2) for Blue
   ' and assign the result to BackColor of PictureBox picColor
   picColor.BackColor = RGB(VScroll1(0).Value, VScroll1(1).Value, VScroll1(2).Value) 
   ' Variable used to prepare display string
   Dim strRGB As String 
   ' Description of what is displayed
   strRGB = "picColor.BackColor = RGB(Red, Green, Blue) " & vbCrLf 
   ' Values of Red, Green, Blue in Decimal
   strRGB = strRGB & " Decimal: " & VScroll1(0).Value & ", " & VScroll1(1).Value & ", " & VScroll1(2).Value & vbCrLf 
   ' Values of Red, Green, Blue in Hexadecimal
   strRGB = strRGB & " Hex: 0x" & Hex(VScroll1(0).Value) & ", 0x" & Hex(VScroll1(1).Value) & ", 0x" & Hex(VScroll1(2).Value) 
   ' Assign the resultant string to caption of Label lblRGBValue
   lblRGBValue.Caption = strRGB 
End Sub 

Bạn hãy khởi động chương trình rồi nắm các bar của 3 VScrolls kéo lên, kéo xuống để xem kết quả. Cửa sổ của chương trình sẽ có dạng giống như dưới đây:


Bạn có thể download source code của program VScrollColor nầy tại đây.

Color Mapping

Nếu dùng Hex Calculator đổi con số 0xFFFFFF ra decimal ta sẽ được 16777215, nếu kể cả số 0 ta sẽ có tổng cộng 16777216 màu. Lúc nãy ta bàn về 8bit (1 byte) và 16bit (2 bytes) color, nhưng ở đây ta nói chuyện 3 byte color. Như thế có thể màn ảnh không đủ khả năng để cung cấp mọi màu mà Function RGB tính ra. Vậy VGA card sẽ làm sao?

Thí dụ một cạt VGA chỉ hổ trợ đến 8 bits. Nó sẽ cung cấp 256 màu khác nhau. Nếu Function RGB đói hỏi một màu mà VGA card có thể cung cấp chính xác thì tốt, nếu không nó sẽ tìm cách dùng hai hay ba đóm gần nhau để trộn màu và cho ta ảo tưởng màu ta muốn. Công tác nầy được gọi là Color Mapping và cái màu được làm ra được gọi là custom color.

Dùng Intrinsic Color Constants

Một trong những features của MSWindows là cho ta chọn Color Scheme của Windows theo sở thích. Bình thường, Color Scheme của Windows là Blue, nhưng ta có thể chọn Olive Green hay Silver, nếu ta muốn.

Chỉ khổ nổi nếu ta đã dùng một màu đỏ đậm để hiển thị tuyệt đẹp thứ gì trong chương trình VB6 mà bây giờ user tự nhiên thay đổi Color Scheme thành Olive Green chẳng hạn khiến cho màu đỏ đậm ấy coi chẳng giống ai trong cái Color Scheme mới.

Để tránh trường hợp ấy, thay vì nói thẳng ra là màu gì (xanh hay đỏ) ta nói dùng màu vbActiveTitlebar hay vbDesktop, .v.v.
Dùng Intrinsic Color Constant sẽ bảo đảm màu ta dùng sẽ được biến đổi theo Color Scheme mà user chọn để khỏi bị trường hợp cái màu trở nên chẳng giống ai. Lúc thiết kế, ta cũng có thể chọn Intrinsic Color Constant từ Tab System khi chọn màu.

Graphic files

Khi một hình Graphic được lưu trử theo dạng số pixels với màu của chúng như đã nói trên thì ta gọi là một Bit Map và tên file của nó trong disk có extension BMP thí dụ như House.bmp. Lưu trử kiểu nầy cần rất nhiều memory và rất bất tiện để gởi đi hay hiển thị trên một trang Web. Do đó người ta dùng những kỹ thuật để giảm thiểu lượng memory cần để chứa graphic nhưng vẫn giữ được chất lượng của hình ảnh. Có hai dạng Graphic files rất thông dụng trên Web, mang tên với extensions là JPGGIF. Đặc biệt với GIF files ta có thể chứa cả hoạt họa (animation), tức là một GIF file có thể chứa nhiều hình (gọi là Frames) để chúng lần lượt thay nhau hiển thị, cho người xem có cảm tưởng một vật đang di động.

 

Chương Mười Hai – Dùng Đồ Họa (Phần II)

In trên màn ảnh

VB6 có method Print cho ta in thẳng trên Form, PictureBox hay Printer. Ba loại control nầy được coi như những khung vải mà họa sĩ vẽ lên.

Bạn hãy khởi động một chương trình VB6 mới. Đặt lên form một PictureBox tên Picture1 và một button tên CmdPrintTenLines với Caption Print Ten Lines. DoubleClick lên button nầy và viết code dưới đây:

Private Sub CmdPrintTenLines_Click() 
   Dim i As Integer 
   ' String variable used for display
   Dim strLine As String 
   ' Write 10 lines, one under the other
   For i = 1 To 10 
      strLine = "This is line " & CStr(i) 
      Me.Print strLine  ' Print on Form
      Picture1.Print strLine  ' Print on Picture1
   Next 
End Sub 

Bạn hãy chạy thử program rồi click nút Print Ten Lines. Trong trường hợp nầy ta dùng default Font và Color để in 10 hàng. Sau mỗi Print, chương trình tự động xuống hàng.

Kế đó, thêm một button tên CmdPrintFontSizes với Caption Print Font Sizes. DoubleClick lên button nầy và viết code dưới đây:

Private Sub CmdPrintFontSizes_Click() 
   Dim i As Integer 
   ' Print numbers 1 to 10, one after the other on the same line
   For i = 1 To 10 
      ' Define Font size
      Me.Font.Size = Me.Font.Size + i 
      ' Define Color using Function QBColor
      Me.ForeColor = QBColor(i) 
      ' Print without moving to next line. Note the semicolon ";"
      Me.Print Str(i); 
   Next 
End Sub 

Trong Sub CmdPrintFontSizes_Click, ta thay đổi cở kiểu chữ để cho các con số được in ra lớn lên dần dần và thay đổi màu của các con số bằng cách dùng function QBColor. Để in các con số liên tục không xuống hàng ta dùng method Print với semicolon (;). Bạn hãy chạy chương trình lại. Click nút Print Ten Lines rồi click nút Print Font Sizes, kết quả sẽ giống như dưới đây:

Bây giờ bạn thử minimize cửa sổ của chương trình, kế đó restore nó lại kích thước cũ. Bạn sẽ thấy các hàng ta in lúc nãy không còn trong form hay PictureBox nữa.

Lý do là khi ta Print lên form hay PictureBox, các hình ấy được vẽ trong graphic địa phương chớ không được VB6 kể là một phần của cửa sổ. Muốn tránh trở ngại nầy ta phải dặn VB6 nhớ vẽ lại bằng cách set property AutoRedraw của form và Picture1 ra True.

Hệ thống tọa độ

Khi đặt một Object hay vẽ một cái gì lên màn ảnh (screen) hay form .v.v.. ta cần phải chỉ định Object ấy nằm chỗ nào kể từ (with reference to) cái góc Trên Trái (Top Left) của màn ảnh hay form.

Cái góc Trên Trái là Trung tâm tọa độ của screen hay form. Ở đó tọa độ X và Y đều bằng 0, ta viết là 0,0. Nếu ta đi lần qua phải theo chiều rộng của screen thì tọa độ X tăng lên. Nếu ta đi dọc xuống dưới theo chiều cao của screen thì tọa độ của Y tăng lên.

Kế đến là đơn vị đo lường ta dùng để biểu diễn khoảng cách. Trong bài trước ta đã nói đến độ mịn của màn ảnh (screen resolution) dựa vào pixel. Ta có thể dùng đơn vị pixel để nói một Object có tọa độ X và Y mỗi chiều bao nhiêu pixels tính từ trung tâm tọa độ.

Như thế, ngay cả trên cùng một màn ảnh khi ta tăng độ mịn nó lên thì một Object đã được đặt lên màn ảnh theo đơn vị pixel sẽ xích qua trái và lên trên một ít vì kích thước một pixel bây giờ nhỏ hơn lúc trước một chút.

Hình dưới đây minh họa các kích thước của màn ảnh và Form.

Điểm cần biết là có những phần như title barborder của một form ta không thể vẽ lên được. Do đó diện tích còn lại của form được gọi là Client Area. Chiều rộng và chiều cao của Client Area được gọi là ScaleWidthScaleHeight.

Nếu muốn khoảng cách từ một Object đến trung tâm tọa độ, hay kích thước của chính Object, không hề thay đổi dù ta có tăng, giảm độ mịn của màn ảnh hay in hình ra printer (thí dụ ta muốn nó luôn luôn dài 5cm chẳng hạn) thì ta dùng hệ thống tọa độ theo đơn vị twips của form.

Twips là Default Coordinate System của VB6. Trong hệ thống nầy mỗi điểm là tương đương với 1/567 centimeter. Do đó, nếu bạn vẽ một dường dài 567 twips nó sẽ hiển thị dài 1cm trên màn ảnh, và khi bạn in nó ra, nó cũng dài 1cm trên giấy. Tức là độ dài thật của Object không tùy thuộc vào loại màn ảnh (độ mịn cao hay thấp) hay printer. Người ta nói nó là Device independent coordinate system (Hệ thống tọa độ độc lập với dụng cụ). Nói một cách khác Twips cho ta thật sự what you see is what you get (WYSIWYG – thấy sao có vậy), rất thích hợp với Desktop publishing.

Bạn có thể thay đổi hệ thống tọa độ của một form bằng cách edit property ScaleMode qua cửa sổ Properties như sau:

Ghi chú: Thay đổi trị số ScaleMode không có hiệu lực ngay mà chỉ ảnh hưởng những gì được thiết kế sau đó.

Giống như khi ta Edit Text trong Notepad, Text Cursor (thanh | chớp chớp) là vị trí hiện tại, nơi sẽ hiển thị cái chữ ta đánh sắp tới, trong graphic ta có một Cursor vô hình, nơi sẽ hiển thị cái gì ta sắp Print. Ta chỉ định vị trí của graphic cursor ấy bằng cách cho trị số của CurrentXCurrentY.

Bạn hãy khởi động một dự án VB6 mới và viết code cho Event Resize của form chính như sau:

Thử chạy chương trình và Resize form. Mỗi khi bạn Resize form, chữ X sẽ được dời đến vị trí khoảng chính giữa của Client Area của form.

Dùng Graphics

Đã có một chút căn bản về graphics của VB6, bây giờ ta có thể đặt những graphics lên form. Có hai cách để làm chuyện ấy:

  • Dùng Graphical Controls: Ta có PictureBoxImage có thể chứa hình ảnh. Trong khi LineShape có thể vẽ đường thẳng hay các hình chữ nhật, tròn .v.v.. trên form, lúc thiết kế.

  • Dùng Graphics Methods: Đây là những mệnh lệnh cho ta vẽ trực tiếp lên form lúc run-time. Các mệnh lệnh VB6 cho ta là Cls, Pset, Point, LineCircle.



Tùy theo hoàn cảnh, bạn có thể lựa chọn cách nào tiện dụng.

PictureBox và Image

Dùng PictureBox hay Image là cách dễ nhất để hiển thị một graphic trong form. Lúc thiết kế, bạn có thể đánh thẳng tên của graphic vào property Picture trong cửa sổ Properties. Form cũng nhận property Picture. Bạn cũng có thể click lên bên phải chữ property Picture để browse và chọn một graphic, thường là Bitmap hay Icon.

Sự khác biệt chí giữa Image và PictureBox là Image có property Stretch mà ta có thể set thành True để kéo dãn graphic ra cho chiếm trọn diện tích của Image. Image là một grapgic control lightweight (nhẹ ký), tức là nó không đòi hỏi nhiều memory và chạy nhanh hơn PictureBox. Lý do là PictureBox là một container, tức là nó có thể chứa các controls khác. Ngoài ra, PictureBox cũng cho phép ta vẽ lên trên nó giống như trên form.

Trong hình dưới đây, trong lúc thiết kế ta đặt một PictureBox và một Image cùng một cỡ lên cùng một form. Kế đó ta assign cùng một picture hình happy.bmp cho cả hai. Riêng với Image, ta set property Stretch của nó ra True.

Chỉ định hình ảnh lúc run-time

Trong lúc program đang chạy, ta có thể thay đổi hình ảnh chứa trong PictureBox hay Image bằng cách dùng Function LoadPicture. Nhớ là ta không thể assign trực tiếp vào Property Picture của hai graphical controls nầy. Lý do là Property Picture chỉ là một cách thân thiện cho ta chỉ định một graphic trong lúc thiết kế. Khi một hình ảnh đã được chỉ định rồi, VB6 chứa cả hình ấy vào file có cùng tên với file của form nhưng với extension .frx. Tức là nếu tên của form là Form1 thì graphic của Property Picture được chứa chung với các graphics khác của form trong file Form1.frx.

Do đó, vì VB6 program chứa luôn graphic chung với nó, ta không cần phải nhắc đến tên của graphic file khi dùng hay deploy, tức là không cần đính kèm tên graphic file trong Setup file cho người ta install. Dưới đây là code mẫu để lúc run-time ta load một graphic tên sad.bmp nằm trong Subfolder tên images của App.path vào Image control tên Image1.

Private Sub CmdLoad_Click() 
   Dim LocalDir As String 
   ' Assign Folder where program resides to LocalDir
   LocalDir = App.Path 
   ' Append right backslash if last character is not "\"
   If Right(LocalDir, 1) <> "\" Then 
      LocalDir = LocalDir & "\" 
   End If 
   ' Load graphic "sad.bmp" from SubFolder "images" into Image1
   Image1.Picture = LoadPicture(LocalDir & "images\sad.bmp") 
End Sub 

Dĩ nhiên, nếu ta muốn load graphic lúc run-time thì phải cung cấp graphic file riêng.

Control Shape

Control Shape cho phép bạn vẽ những hình đơn giản như đường thẳng, hộp, vòng tròn trên form, lúc thiết kế. Sau khi DoubleClick lên control Shape trong Toolbox để thêm một control Shape vào form, bạn chọn loại Shape của nó từ cửa sổ Properties rồi nắm vào một góc của Shape trên form drag lớn nhỏ tùy ý.

Muốn sơn bên trong một Shape, bạn chọn màu từ property FillColor. Property FillColor cũng giống như BackColor của các controls khác, nhưng nó chỉ có hiệu lực khi bạn cho property FillStyle một trị số khác hơn là 1- Transparent (trong suốt), thí dụ như 0- Solid (dày đặc).


Control Line

Tương tự với các properties Fill của Shape, đối với Line bạn có các properties BorderColor, BorderStyle và BorderWidth. Border color chỉ định màu của chính đường thẳng, BorderStyle để cho bạn lựa đường liên tục hay gạch chấm, và BorderWidth để làm cho đường dày to hơn. Các properties nầy cũng áp dụng cho chu vi (đường bao quanh) của các hình chữ nhật, tròn .v.v.


Bạn có thể tải về chương trình Graphics.zip tại đây.

 

Chương Mười Hai – Dùng Đồ Họa (Phần III)

Graphics Methods

Trong khi các Graphical Controls như Shape, Line cho ta vẽ hình lúc thiết kế thì Graphics Methods cho ta vẽ những thứ ấy lúc run-time. Ta cũng có thể chấm từng đóm (pixel) hay copy cả một Picture từ chỗ nầy đến chỗ khác.

Chỉ cần một chút kinh nghiệm bạn có thể làm hoạt họa (animation) hay tạo visual effects tuyệt diệu mà không cần phải đụng đến Windows API (Application Programming Interface) để dùng Function BitBlt.

Method PaintPicture

Method PaintPicture cho phép bạn copy rất nhanh một khối dữ kiện đồ họa, nói nôm na là một khu vực trong một hình graphic trên form, PictureBox hay Printer đến một nơi khác. Thí dụ bạn copy một hình từ chỗ nầy đến chỗ khác trong form, hay từ form/PictureBox ra Printer Object để một chốc sau bạn in nó ra.

Bạn hãy khởi động một dự án VB6 mới và DoubleClick lên PictureBox Icon trong ToolBox để đặt một PictureBox lên form. Đặt tên PictureBox ấy là picGraphic và set property Visible của nó ra False để ta không thấy nó lúc run-time.

Bây giờ load một hình vào property Picture của picGraphic bằng cách Browse một Bitmap file từ cửa sổ Properties. Ở đây ta chọn INTL_NO.BMP từ folder \Program Files\Microsoft Visual Studio\Common\Graphics\Bitmaps\Assorted


Trong chương trình nầy ta muốn hễ khi đè nút trái của Mouse xuống và di chuyển Mouse cursor thì khi cursor đi đến đâu, hình INTL_NO được vẽ đến đó.

Ta sẽ dùng một Flag để đánh dấu nút-trái-của-Mouse-Down, đặt tên là flgMouseDown. Khi nhận được Event MouseDown ta set flgMouseDown thành True, và khi nhận được Event MouseUp ta reset flgMouseDown thành False. Mỗi lần nhận được Event MouseMove thì nếu flgMouseDown là True ta sẽ PaintPicture INTL_NO.

Để xóa background của form, ta thêm một button tên CmdClearForm để chạy graphic method Cls. Dưới đây là liệt kê code mẫu:

' Flag that indicates that the Mouse's left button is depressed
Dim flgMouseDown As Boolean 

Private Sub Form_Load() 
   ' Initialise flgMouseDown to False
   flgMouseDown = False 
End Sub 

Private Sub Form_MouseDown(Button As Integer, Shift As Integer, X As Single, Y As Single) 
   ' Set Flag flgMouseDown 
   flgMouseDown = True 
End Sub 

Private Sub Form_MouseMove(Button As Integer, Shift As Integer, X As Single, Y As Single) 
   ' Paint picGraphic if flgMouseDown is True
   If flgMouseDown Then 
      ' Paint full-size picGraphic at Mouse cursor location
      PaintPicture picGraphic.Picture, X, Y, picGraphic.Width, picGraphic.Height 
   End If 
End Sub

Private Sub Form_MouseUp(Button As Integer, Shift As Integer, X As Single, Y As Single) 
   ' Reset Flag flgMouseDown 
   flgMouseDown = False 
End Sub 

Private Sub CmdClearForm_Click() 
   ' Clear the form
   Cls 
End Sub 


Lưu ý là bạn phải declare variable flgMouseDown bên ngoài các Subs để mọi Sub đều thấy và có thể dùng nó. Muốn biết thêm chi tiết về cách dùng method PaintPicture, trong VB6 IDE DoubleClick lên chữ PaintPicture trong code editor để highlight chữ ấy rồi bấm nút F1.

Bạn có thể tải về chương trình MouseMove.zip tại đây.

Method PSet

Ta dùng method PSet (đến từ chữ Point Set) để vẽ một pixel lên form. Ta cần cho biết PSet ở đâu và với màu gì, tức là ta cho nó tọa độ X,Y của pixel và một màu tính từ function RGB.

Dưới đây là code để vẽ pixels đủ màu lên form một cách bất chừng (randomly) về vị trí và màu sắc khi user clicks lên form chính:

Private Sub Form_Click() 
   Dim i As Integer 
   ' Variables for pixel coordinates
   Dim iXCoord As Integer 
   Dim iYCoord As Integer 
   ' Variable for primary colours
   Dim iRed As Integer 
   Dim iGreen As Integer 
   Dim iBlue As Integer 
   ' Start the Random number generation
   Randomize 
   ' Plot 2000 dots randomly
   For i = 1 To 2000 
      ' get a random XCoord.
      ' Note that Rnd(1) returns a real number between 0 and 1, eg: 0.384
      iXCoord = Int(Rnd(1) * ScaleWidth) 
      ' get a random YCoord.
      iYCoord = Int(Rnd(1) * ScaleHeight) 
      ' Get a random number between 0 and 254 for each primary colour
      iRed = Int(Rnd(1) * 255) 
      iGreen = Int(Rnd(1) * 255) 
      iBlue = Int(Rnd(1) * 255) 
      ' Plot the pixel at iXCoord,iYCoord
      PSet (iXCoord, iYCoord), RGB(iRed, iGreen, iBlue) 
   Next 
   MsgBox ("All done!") 
End Sub 

Trong thí dụ trên ta dùng method Randomize để generate sẵn trong bộ nhớ các con số real bất chừng từ 0 đến 0.999. Sau đó mỗi lần ta gọi Function Rnd(1) là nó sẽ trả về một con số real lấy bất chừng từ bộ số do method Randomize generated. Do đó, Rnd(1) * ScaleWidth sẽ cho ta một con số real có trị số từ 0 đến ScaleWidth. Muốn đổi con số real đó ra Integer, ta dùng Function Int.

Khi khởi động chương trình và Click lên form ta sẽ có hình giống như dưới đây:

Mách nước: Để xóa một đóm bạn Pset lại tại chỗ ấy một đóm mới có cùng màu với BackColor của form.

Bạn có thể tải về chương trình PSet.zip tại đây.

Method Line

Method Line vẽ một đường thẳng từ một tọa độ nầy đến một tọa độ khác trong màu do ta chỉ định. Với hai methods PSet và Line ta có thể làm được rất nhiều chuyện. Thí dụ muốn cho một vật di động, ta xóa vật ấy bằng cách vẽ lại nó với cùng màu của BackColor của form, rồi vẽ vật ấy ở vị trí mới. Muốn vẽ một đa giác như tam giác hay chữ nhật ta ráp nhiều đường thẳng lại với nhau, đầu của mỗi đường thẳng là cuối của đường thẳng vừa mới được vẽ trước. Muốn sơn Shade bên trong một hình chữ nhật ta dùng PSet..v.v.

Có ba cách để chỉ định tọa độ của hai đầu của một đường thẳng ta muốn vẽ:

  1. Cho biết tọa độ của đầu và cuối đường thẳng:
    thí dụ: Line (50, 100)-(3000, 4000)
    Khi đường nầy được vẽ xong thì vị trí của graphic cursor có tọa độ là vị trí của cuối đường, tức là CurrentX=3000 và CurrentY=4000 trong trường hợp nầy.

  2. Chỉ cho biết tọa độ cuối đường thẳng:
    thí dụ: Line -(3600, 4500), vbMagenta
    Trong trường hợp nầy vị trí của graphic cursor (CurrentX, CurrentY) được lấy làm tọa độ của đầu đường thẳng khi vẽ. Tức là nếu trước khi execute dòng code nầy CurrentX=3000 và CurrentY=4000 thì dòng code tương đương với:

    Line (3000,4000)-(3600,4500), vbMagenta

  3. Dùng chữ Step để nói sự khác biệt từ CurrentX và CurrentY:
    thí dụ: Line Step(400, 600)-Step(800, -500), vbGreen
    Nếu trước khi execute dòng code nầy CurrentX=3600 và CurrentY=4500 thì dòng code tương đương với:

    Line (4000,5100)-(4800,4600), vbGreen

Trong thí dụ dưới đây, một hình tam giác được vẽ bằng hai cách coding khác nhau. Khi chạy program để thử, bạn hãy lần lượt click Triangle METHOD ITriangle METHOD II để thấy cả hai cách vẽ đều y như nhau, chỉ khác màu thôi.

Private Sub CmdTrianI_Click() 
   ' Drawing a black triangle: METHOD I
   Line (700, 500)-(2800, 2400) 
   Line (2800, 2400)-(1800, 900) 
   Line (1800, 900)-(700, 500) 
End Sub 

Private Sub CmdTrianII_Click() 
   ' Drawing a red triangle: METHOD II
   ' Draw a red line from Location(700, 500) to Location (2800, 24000)
   Line (700, 500)-(2800, 2400), vbRed 
   ' Draw a red line from Location(2800,2400) to Location (1800,900)
   Line -(1800, 900), vbRed 
   ' Draw a red line from Location(1800,900) to Location (700,500)
   Line -(700, 500), vbRed 
End Sub 

Để vẽ một hình chữ nhật, cách tiện nhất là dùng Step như dưới đây:

Private Sub Rectangle(ByVal X1 As Integer, ByVal Y1 As Integer, ByVal X2 As Integer, ByVal Y2 As Integer) 
   ' Draw a rectangle
   Line (X1, Y1)-(X2, Y1) 
   Line -(X2, Y2) 
   Line -(X1, Y2) 
   Line -(X1, Y1) 
End Sub 

Ta còn có thể vẽ một hình chữ nhật với bốn góc tròn như sau:

Private Sub RoundCornerRectangle(ByVal X1 As Integer, ByVal Y1 As Integer, ByVal X2 As Integer, ByVal Y2 As Integer) 
   Const Delta = 50 
   ' Draw a rectangle with round corner
   Line (X1 + Delta, Y1)-(X2 - Delta, Y1) 
   Line -Step(Delta, Delta) 
   Line -(X2, Y2 - Delta) 
   Line -Step(-Delta, Delta) 
   Line -(X1 + Delta, Y2) 
   Line -Step(-Delta, -Delta) 
   Line -(X1, Y1 + Delta) 
   Line -Step(Delta, -Delta) 
End Sub 

Ta cũng có thể sơn Shade bên trong hình chữ nhật bằng cách dùng method PSet để chấm các đóm cách nhau chừng 50 pixels như sau:

Private Sub Shade(ByVal X1 As Integer, ByVal Y1 As Integer, ByVal X2 As Integer, ByVal Y2 As Integer) 
   ' Shade a roundcorner rectangle by plotting dots using method Pset
   Const Delta = 50 
   Dim i As Integer 
   Dim j As Integer 
   ' Make sure that X1 is less than X2
   ' Swap values of X1, X2 if X1 > X2
   If X2 < X1 Then 
      Temp = X1 
      X1 = X2 
      X2 = Temp 
   End If 
   ' Make sure that Y1 is less than Y2
   ' Swap values of Y1, Y2 if Y1 > Y2
   If Y2 < Y1 Then 
      Temp = Y1 
      Y1 = Y2 
      Y2 = Temp 
   End If 
   ' Plotting dots inside the rectangle at 50 pixels apart
   For i = X1 + Delta To X2 - Delta Step 50 
      For j = Y1 + Delta To Y2 - Delta Step 50 
         PSet (i, j) 
      Next 
   Next 
End Sub 

Muốn Shade đậm hơn, bạn có thể chấm các đóm gần nhau hơn, thí dụ cho cách nhau 30 pixels thay vì 50 pixels. Có một cách khác là tăng trị số của DrawWidth, độ dày của đường vẽ hay đóm.

Bây giờ phối hợp cách vẽ hình chữ nhật với method Shade nói trên và method Print ta có thể viết chữ bên trong một khung màu nhạt như sau:

Private Sub CmdDrawFrame_Click() 
   Dim X1 As Integer 
   Dim Y1 As Integer 
   Dim X2 As Integer 
   Dim Y2 As Integer 
   ' Initialise Coordinates of rectangle
   X1 = 4200: Y1 = 1000 
   X2 = 6200: Y2 = 2000 
   ' Draw a roundcorner rectangle
   RoundCornerRectangle X1, Y1, X2, Y2 
   ' Shade the rectangle
   Shade X1, Y1, X2, Y2 
   ' Position cursor to Print some text
   CurrentX = X1 + 50 
   CurrentY = Y1 + 50 
   ' Define Font Size
   Font.Size = 18 
   ' Print the text at cursor location
   Print "Hello there!" 
End Sub 

Khi chạy chương trình nầy và click tất cả các buttons trên form, bạn sẽ có hình dưới đây:

Hãy nhớ set property AutoDraw của form ra True để các graphic chương trình vẽ không bị mất khi user minimises form.

Bạn cũng có thể dùng những kỹ thuật nói trên với Object Printer để in các mẫu giấy điền chi tiết.

Bạn có thể tải về chương trình Lines.zip tại đây.

Method Circle

Ta dùng Method Circle để vẽ hình tròn, hình bầu dục và đường cung, với bên trong trống rỗng hay được sơn đầy bằng một màu ta chỉ định. Ta phải cho biết tọa độ của tâm điểm vòng tròn và bán kính của nó.

Bạn hãy khởi động một dự án VB6 mới, đặt lên form một button với tên frmCircle và caption Circle & Lines. DoubleClick lên button ấy và viết code sau đây:

Private Sub CmdCircleLine_Click() 
   ' Draw a circle centered at 2000,1500 with radius equal 800
   Circle (2000, 1500), 800 
   ' Draw a vertical line from center
   Line (2000, 1500)-Step(0, 800) 
   ' Draw a horizontal line from center
   Line (2000, 1500)-Step(800, 0) 
End Sub 

Bây giờ hãy đặt lên form một button khác tên CmdArc và caption Draw Arc. Thay vì vẽ nguyên một vòng tròn, ta sẽ chỉ vẽ một hình vòng cung bằng màu đỏ.

Để chỉ định rằng ta sẽ vẽ từ vị trí nào trên vòng tròn đến vị trí nào khác, thí dụ từ 45độ đến 230độ, ta cần phải đổi degree ra đơn vị Radian bằng cách dùng Function Rads như sau:

Private Function Rads(ByVal Degree As Single) As Single 
   ' Convert Degrees to Radian
   Const PI = 22 / 7 
   Rads = Degree / 180 * PI 
End Function 

Vòng cung luôn luôn được vẽ ngược chiều kim đồng hồ. Dưới đây là code để vẽ một đường vòng cung màu đỏ bán kính 800, tâm điểm ở (4000, 2000), từ 45độ đến 230độ:

Private Sub CmdArc_Click() 
   Circle (4000, 2000), 800, vbRed, Rads(45), Rads(230) 
End Sub 

Ta có thể cho sơn bên trong các hình tròn, hay Pie Slices (một phần của hình tròn) bằng cách set FillStyle bằng 0 và chỉ định màu FillColor. Một Pie Slice là một vòng cung đóng kính bởi hai đường thẳng bán kính ở hai đầu. Muốn vẽ một Pie Slice ta đánh thêm dấu trừ (““) trước hai trị số Radian, tức là dùng -Rads(45), -Rads(230) thay vì Rads(45), Rads(230).

Dưới đây là code vẽ hai Pie Slices, có tâm điểm lệch nhau một tí, đồng thời thêm chú thích 87.5% và 12.5%.

Private Sub CmdPie_Click() 
   FillStyle = 0  ' Fill inside any closed shaped
   FillColor = vbYellow 
   ' Draw a Pie Slice from 90deg to 45deg in Yellow
   Circle (3000, 4000), 800, , -Rads(90), -Rads(45) 
   ' Position the graphic cursor to Print some text
   CurrentX = 2800: CurrentY = 4400 
   Print "87.5%" 
   FillColor = vbBlue 
   ' Draw a Pie Slice from 45deg to 90deg in Blue
   Circle (3050, 3900), 800, , -Rads(45), -Rads(90) 
   ' Position the graphic cursor to Print some text
   CurrentX = 3400: CurrentY = 3000 
   Print "12.5%" 
   FillStyle = 1  ' No fill
End Sub 

Cách dùng cuối cùng của method Circle là để vẽ một hình bầu dục (Elllipse). Vẽ hình bầu dục giống như vẽ một hình tròn nhưng ta cần cho thêm một parameter gọi là Aspect. Aspect là sự liên hệ giữa bán kính vertical và bán kính horizontal. Thí dụ nếu Aspect=2 thì chiều cao của hình bầu dục gấp đôi chiều ngang, ngược lại, nếu Aspect=0.5 thì chiều ngang sẽ gấp đôi chiều cao.

Dưới đây là code ta dùng để vẽ hai hình bầu dục cùng cỡ, một cái màu tím nằm thẳng đứng và một cái màu xanh nằm ngang.

Private Sub CmdEllipse_Click() 
   Circle (1400, 3000), 800, vbMagenta, , , 2 
   Circle (1400, 3000), 800, vbBlue, , , 0.5 
End Sub 

Nếu bạn khởi động chương trình và click cả bốn buttons bạn sẽ thấy hình sau đây:


Bạn có thể tải về chương trình Circles.zip tại đây.

Property DrawMode

Thông thường khi ta vẽ, trị số default của property DrawMode13- Copy Pen. Có một trị số DrawMode rất thích hợp cho áp dụng hoạt họa là 7- Xor Pen. Muốn xóa một hình vừa vẽ xong ta chỉ cần vẽ lại hình ấy trong DrawMode Xor Pen, không cần biết trước đó background như thế nào, nó sẽ hiện ra trở lại.

 

Chương Mười Ba – Cơ sở dữ liệu (Database)

Table, Record và Field

Nói đến cơ sở dữ liệu, ta lập tức nghĩ đến SQLServer, Access hay Oracle .v.v., những nơi chứa rất nhiều dữ liệu để ta có thể lưu trữ hay lấy chúng ra một cách tiện lợi và nhanh chóng. Hầu hết các chương trình ta viết đều có truy cập cơ sở dữ liệu, và ta dùng nó như một công cụ để làm việc với rất nhiều dữ liệu trong khi tập trung vào việc lập trình phần giao diện với người dùng (users).

Do đó ta cần có một kiến thức căn bản về kiến trúc của cơ sở dữ liệu để hiểu lý do tạo sao ta thiết kế hay truy cập nó theo những cách nhất định.

Ta sẽ dùng Access Database biblio.mdb, nằm ở C:\Program Files\Microsoft Visual Studio\VB98\biblio.mdb để minh họa các ý niệm cần biết về cơ sở dữ liệu.

Trong database nầy có 4 tables: Authors (tác giả), Publishers (nhà xuất bản), Titles (đề mục) và Title Author.

Table Authors chứa nhiều records. Mỗi record trong table Authors chứa 3 fields: Au_ID, AuthorYear Born (năm sanh). Ta có thể trình bày Table Authors dưới dạng một spreadsheet như sau:

Vì cùng một field của các records hiển thị trong cùng một cột của spreadsheet, nên ta cũng nói đến một field như một column (cột). Và vì mỗi data record chiếm một row (hàng) của spreadsheet, nên có khi ta cũng nói đến một record như một row.

Thật tình mà nói, ta không cần phải có một computer để lưu trữ hay làm việc với một table như Authors nầy. Ta đã có thể dùng một hộp cạt, trên mỗi cạt ta ghi các chi tiết Au_ID, Author và Year Born của một Author. Như thế mỗi tấm cạt tương đương với một record và nguyên cái hộp là tương đương với Table Authors.

Ta sẽ sắp các cạt trong hộp theo thứ tự của số Au_ID để có thể truy cập record nhanh chóng khi biết Au_ID. Chỉ khổ một nỗi, nếu muốn biết có bao nhiêu tác giả, trong số 300 cạt trong hộp, già hơn 50 tuổi thì phải mất vài phút mới có thể trả lời được. Database trong computer nhanh hơn một hệ thống bằng tay (Manual) là ở chỗ đó.

Primary Key và Index

Để tránh sự trùng hợp, thường thường có một field của record, thí dụ như Au_ID trong Table Authors, được dành ra để chứa một trị số độc đáo (unique). Tức là trong Table Authors chỉ có một record với field Au_ID có trị số ấy mà thôi. Ta gọi nó là Primary Key.

Không phải lúc nào ta cũng muốn truy cập một record Author dựa vào Au_ID. Nhiều khi ta muốn dùng chính tên của Author để truy cập, do đó ta cũng cần phải sort sẵn các records theo thứ tự alphabet. Ta cũng có thể hợp nhiều fields lại để sort các records. Thật ra, chính các records không cần phải được dời đi để nằm đúng vị trí thứ tự. Ta chỉ cần nhớ vị trí của nó ở đâu trong table là đủ rồi.

Cái field hay tập hợp của nhiều fields (thí dụ surname và firstname ) để dùng vào việc sorting nầy được gọi là Index (ngón tay chỉ). Một Table có thể có một hay nhiều Index. Mỗi Index sẽ là một table nhỏ của những pointers, chứa vị trí của các records trong Table Authors. Nó giống như mục lục index ở cuối một cuốn sách chứa trang số để chỉ ta đến đúng phần ta muốn tìm trong quyển sách.

Khi thiết kế một Table ta chỉ định Datatype của mỗi field để có thể kiểm tra data cho vào có hợp lệ hay không. Các Datatypes thông dụng là Number, String (để chứa Text), Boolean (Yes/No), Currency (để chứa trị số tiền) và Date (để chứa date/time). Datatype Number lại gồm có nhiều loại datatypes về con số như Integer, Long (integer chiếm 32 bits), Single, Double, .v.v.

Dưới đây là Datatypes của các fields trong record Author:

Có loại Datatype đặc biệt tên là AutoNumber. Thật ra nó là Long nhưng trị số được phát sinh tự động mỗi khi ta thêm một record mới vào Table. Ta không làm gì hơn là phải chấp nhận con số ấy.

Relationship và Foreign Key

Bây giờ, nếu bạn đang chạy Microsoft Access để quan sát database biblio.mdb, bạn có thể dùng Menu Command Tools | Relationships như sau để xem sự liên hệ (relationships) giữa các tables.

Access sẽ hiển thị giao thoại Relationships, trong đó mỗi table có chứa tên các fields. Mỗi table lại có một hay hai sợi dây nối qua các tables klhác. Mỗi sợi dây là một mối liên hệ (relationship), nó nối một field trong một table với một field có cùng tên trong table kia.

Thí dụ như giữa hai tables PublishersTitles có mối liên hệ dựa trên field PubID (Publisher IDentification – số lý lịch của nhà xuất bản). Hơn nữa, nếu để ý bạn sẽ thấy ở đầu dây phía table Publishers có con số 1, còn ở đầu dây bên phía table Titles có dấu vô cực (∞). Ta gọi mối liên hệ (1-∞ ) là one-to-many, ý nói một nhà xuất bản có thể phát hành nhiều đề mục sách/CD.

Tương tự như vậy, trong mối liên hệ one-to-many giữa table Authors và Title Author, ta thấy một tác giả (bên đầu có con số 1) có thể sáng tác nhiều tác phẩm được đại diện bởi các record Title Author.

Trong khi đó giữa hai tables Titles và Title Author, ta có một mối liên hê one-to-one, tức là tương ứng với mỗi record Title chỉ có một record Title Author. Câu hỏi đặt ra là các mối liên hệ one-to-many có cái gì quan trọng.

Tưởng tượng khi ta làm việc với table Titles (tạm gọi là Tác phẩm), nhiều khi ta muốn biết chi tiết của nhà xuất bản của tác phẩm ấy. Thật ra ta đã có thể chứa chi tiết của nhà xuất bản của mỗi tác phẩm ngay trong table Titles. Tuy nhiên, làm như thế có điểm bất lợi là records của các tác phẩm có cùng nhà xuất bản sẽ chứa những dữ liệu giống nhau. Mỗi lần muốn sửa đổi chi tiết của một nhà xuất bản ta phải sửa chúng trong mỗi record Title thuộc nhà xuất bản ấy. Vì muốn chứa chi tiết của mỗi nhà xuất bản ở một chỗ duy nhất, tránh sự lập lại, nên ta đã chứa chúng trong một table riêng, tức là table Publishers.

Nếu giả sử ta bắt đầu thiết kế database với Table Titles, rồi quyết định tách các chi tiết về nhà xuất bản để vào một table mới, tên Publishers, thì kỹ thuật ấy được gọi là normalization. Nói một cách khác, normalization là thiết kế các tables trong database làm sao để mỗi loại mảnh dữ kiện (không phải là Key) chỉ xuất hiện ở một chỗ.

Trong mối liên hệ one-to-many giữa tables Publishers và Titles, field PubID là Primary Key trong table Publishers. Trong table Titles, field PubID được gọi là Foreign Key, có nghĩa rằng đây là Primary Key của một table lạ (foreign). Hay nói một cách khác, trong khi làm việc với table Titles, lúc nào cần chi tiết một nhà xuất bản, ta sẽ lấy chìa khóa lạ (Foreign Key) dùng làm Primary Key của Table Publishers để truy cập record ta muốn. Để ý là chính Table Titles có Primary Key ISBN của nó.

Relational Database

Một database có nhiều tables và hổ trợ các liên hệ, nhất là one-to-many, được gọi là Relational Database. Khi thiết kế một database, ta sẽ tìm cách sắp đặt các dữ liệu từ thế giới thật bên ngoài vào trong các tables. Ta sẽ quyết định chọn các cột (columns/fields) nào, chọn Primary Key, Index và thiết lập các mối liên hệ, tức là đặt các Foreign Key ở đâu.

Các lợi ích

Trong số các lợi ích của một thiết kế Relational Database có:

  • Sửa đổi dữ kiện, cho vào records mới hay delete (gạch bỏ) records có sẵn rất hiệu quả (nhanh).

  • Truy cập dữ kiện, làm báo cáo (Reports) cũng rất hiệu quả.

  • Vì dữ kiện được sắp đặt thứ tự và có quy củ nên ta có thể tin cậy tính tình của database (không có ba trợn, khi thì thế nầy, khi thì thế khác – giựt giựt).

  • Vì hầu hết dữ kiện nằm trong database, thay vì trong chương trình ứng dụng, nên database tự có documentation (tài liệu cắt nghĩa).

  • Dễ sửa đổi chính cấu trúc của các tables.

Integrity Rules (các quy luật liêm chính)

Integrity Rules được dùng để nói về những qui luật cần phải tuân theo trong khi làm việc với database để đảm bảo là database còn tốt. Có hai loại quy luật: luật tổng quát (General Integrity Rules) và luật riêng cho database (Database-Specific Integrity Rules). Các luật riêng nầy thường tùy thuộc vào các quy luật về mậu dịch (Business Rules).

General Integrity Rules

Có hai quy luật liêm chính liên hệ hoàn toàn vào database: Entity (bản thể) Integrity Rule và Referential (chỉ đến) Integrity Rule.

Entity Integrity Rule nói rằng Primary Key không thể thiếu được, tức là không thể có trị số NULL. Quy luật nầy xác nhận là vì mỗi Primary Key đưa đến một row độc đáo trong table, nên dĩ nhiên nó phải có một trị số đàng hoàng.

Lưu ý là Primary Key có thể là một Composite Key, tức là tập hợp của một số keys (columns/fields), nên nhất định không có key nào trong số các columns là NULL được.

Referential Integrity Rule nói rằng database không thể chứa một Foreign Key mà không có Primary Key tương ứng của nó trong một table khác. Điều ấy hàm ý rằng:

  • Ta không thể thêm một Row vào trong một Table với trị số Foreign Key trong Row ấy không tìm thấy trong danh sách Primary Key của table bên phía one (1) mà nó liên hệ.

  • Nếu có thay đổi trị số của Primary Key của một Row hay delete một Row trong table bên phía one (1) thì ta không thể để các records trong table bên phía many (∞) chứa những rows trở thành mồ côi (orphans).

Nói chung, có ba nhiệm ý (options) ta có thể chọn khi thay đổi trị số của Primary Key của một Row hay delete một Row trong table bên phía one (1):

  1. Disallow (không cho làm): Hoàn toàn không cho phép chuyện nầy xãy ra.

  2. Cascade (ảnh hưởng dây chuyền): Nếu trị số Primary Key bị thay đổi thì trị số Foreign Key tương ứng trong các records của table bên phía many (∞) được thay đổi theo.
    Nếu Row chứa Primary Key bị deleted thì các records tương ứng trong table bên phía many (∞) bị deleted theo.

  3. Nullify (cho thành NULL): Nếu Row chứa Primary Key bị deleted thì trị số Foreign Key tương ứng trong các records của table bên phía many (∞) được đổi thành NULL, để hàm ý đừng có đi tìm thêm chi tiết ở đâu cả.

Database-Specific Integrity Rules

Những quy luật liêm chính nào khác không phải là Entity Integrity Rule hay Referential Integrity Rule thì được gọi là Database-Specific Integrity Rules. Những quy luật nầy dựa vào chính loại database và nhất là tùy thuộc vào các quy luật về mậu dịch (Business Rules) ta dùng cho database, thí dụ như mỗi record về tiền lương của công nhân phải có một field Số Thuế (Tax Number) do sở Thuế Vụ phát hành cho công dân. Lưu ý là các quy luật nầy cũng quan trọng không kém các quy luật tổng quát về liêm chính. Nếu ta không áp dụng các Database-Specific Integrity Rules nghiêm chỉnh thì database có thể bị hư và không còn dùng được.

Microsoft Access Database Management System (MSAccess DBMS)

Microsoft Access Database Management System gồm có Database Engine và những công cụ đi chung để cung cấp cho users một môi trường làm việc thân thiện với database, như Database Design (thiết kế các tables và mối liên hệ), Data entry và báo cáo (reports). Kèm theo với Visual Basic 6.0 khi ta mua là một copy của Database Engine của MSAccess. Tên nó là Jet Database Engine, cái lõi của MSAccess DBMS. Các chương trình VB6 có thể truy cập database qua Jet Database Engine.

Nếu trên computer của bạn có cài sẵn MSAccess, thì bạn có thể dùng đó để thiết kế các tables của database hay cho data vào các tables.

Properties Required và Allow Zero Length

Khi thiết kế một table field, lưu ý property Required và nhất là property Allow Zero Length của Text. Nếu property Required của một field là Yes thì ta không thể update (viết) một record với field ấy có trị số NULL. Nếu một Text field có property Allow Zero LengthNo thì thì ta không thể update một record khi field ấy chứa một empty string.

Khi ta tạo một record lần đầu, nếu không cho trị số của một field, thì field ấy có trị số là NULL. Thường thường, Visual Basic 6.0 không thích NULL value nên ta phải thử một field với Function IsNULL() để đảm bảo nó không có trị số NULL trước khi làm việc với nó. Nếu IsNULL trả về trị số False thì ta có thể làm việc với field ấy. Nhớ là khi trị số NULL được dùng trong một expression, ngay cả khi chương trình không cho Error, kết quả cũng là NULL.

Làm việc với các versions khác nhau

Nếu máy bạn đang chạy MSAccess2002 thì bạn có thể làm việc với Access database file version 97, 2000 và 2002. Nếu cần phải convert từ version nầy qua version khác, bạn có thể dùng Access DBMS Menu Command Tools | Database Utilities | Convert Database | To Access 2002 File Format…. Nếu muốn giữ nguyên version, bạn có thể convert database qua File Format 2002 để sửa đổi, rồi sau đó convert trở lại File Format cũ.

Access database file lớn lên rất nhanh, vì các records đã bị deleted vẫn còn nằm nguyên, nên mỗi tuần bạn nên nhớ nén nó lại để bỏ hết các records đã bị deleted bằng cách dùng Access DBMS Menu Command Tools | Database Utilities | Compact and Repair Database… hay dùng function DBEngine.CompactDatabase trong VB6.

Dùng Query để viết SQL

Một cách để truy cập database là dùng ngôn ngữ Structured Query Language (SQL) theo chuẩn do ISO/IEC phát hành năm 1992, gọi tắt là SQL92. Tất cả mọi database thông dụng đều hỗ trợ SQL, mặc dầu nhiều khi chúng còn cho thêm nhiều chức năng rất hay nhưng không nằm trong chuẩn. Các lệnh SQL thông dụng là SELECT, UPDATE, INSERTDELETE. Ta có thể dùng phương tiện thiết kế Query của MSAccess để viết SQL. Sau khi thiết kế Query bằng cách drag drop các fields, bạn có thể dùng Menu Command View | View SQL như sau:

Tiếp theo đây là SQL statement của Query bên trên mà bạn có thể copy để paste vào trong code VB6:

Dùng Link Table để làm việc trực tiếp với database loại khác

Ta có thể dùng một database loại khác, như DBase, trực tiếp trong VB6 như dùng một Access database bình thường. Muốn thiết lập móc nối ấy, bạn dùng Menu Command File | Get External Data | Link Tables… rồi chọn loại DBase và chính file của table mà bạn muốn dùng để nhét nó vào Access database đang mở:

Database Server và một số ý niệm

Dù Jet Database Engine là một relational database rất tốt và hiệu năng, nó thuộc loại File Based database, tức là nó thụ động, không chạy một mình nhưng phải tùy thuộc vào chương trình dùng nó. File Based database không thích hợp với những ứng dụng có nhiều người dùng cùng một lúc.

Trong khi đó, một Database Server như SQLServer chạy riêng để phục vụ bất cứ chương trình khách (client) nào cần. Database Server thich hợp cho các ứng dụng có nhiều users vì chỉ có một mình nó chịu trách nhiệm truy cập dữ liệu cho mọi clients. Nó có thể chứa nhiều routines địa phương, gọi là Stored Procedures, để thực hiện các công tác client yêu cầu rất hiệu năng. Database Server thường có cách đối phó hữu hiệu khi có sự cố về phần cứng như đĩa hư hay cúp điện. Ngoài ra, Database Server có sẵn các phương tiện về an ninh và backup. Nó cũng có thêm các chức năng để dùng cho mạng.

Ngày nay ta thâu thập dữ liệu dưới nhiều hình thức như Email, Word documents, Speadsheet. Không nhất thiết dữ liệu luôn luôn được chứa dưới dạng table của những records và không nhất thiết dữ liệu luôn luôn được lưu trữ trong một database đàng hoàng. Dù vậy, chúng vẫn được xem như database dưới mắt một chương trình ứng dụng. Do đó, ta dùng từ Data Store (Kho dữ liệu) thay thế cho database để nói đến nơi chứa dữ liệu. Và đối với chương trình tiêu thụ dữ liệu, ta nói đến Data Source (Nguồn dữ liệu) thay vì database.

Khi lập trình bằng VB6 để truy cập database, ta nhìn databse một cách trừu tượng, tức là dầu nó là Access, DBase, SQLServer hay Oracle ta cũng xem như nhau. Nếu có thay đổi loại database bên dưới, cách lập trình của ta cũng không thay đổi bao nhiêu.

Trong tương lai, một XML file cũng có thể được xem như một database nho nhỏ. Nó có thể đứng một mình hay là một table trích ra từ một database chính huy. XML là một chuẩn mà ta có thể dùng để import/export dữ liệu với tất cả mọi loại database hỗ trợ XML. Ta có thể trao đổi dữ liệu trên mạng Intenet dưới dạng XML. Ngoài ra, thay vì làm việc trực tiếp với một database lớn, ta có thể trích ra vài tables từ database ấy thành một XML file. Kế đó ta chỉ lập trình với XML file cho đến khi kết thúc sẽ hòa (merge/reconcile) XML file với database lớn. Nếu phần lớn các chương trình áp dụng được thiết kế để làm việc cách nầy, thì trong tương lai ta không cần một Database Server thật mạnh.

Chương Mười Bốn – Dùng Control Data

Control Data

Từ VB5, Visual Basic cho lập trình viên một control để truy cập cơ sỡ dữ liệu, tên nó chỉ đơn sơ là Data. Như ta biết, có một cơ sỡ dữ liệu Microsoft gói kèm khi ta mua VB6 – đó là Jet Database Engine. Jet Database Engine là cái “phòng máy” của chính MS Access Database Management System.

Cho đến thời VB5, Microsoft cho ta ba kỹ thuật chính:

  • DAO (Data Acess Objects): DAO là kỹ thuật bí truyền của Microsoft, chỉ để dùng với Jet Database Engine. Nó rất dễ dùng, hiệu năng và tiện, nhưng bị giới hạn trong phạm vi MS Access. Dầu vậy, nó rất thịnh hành vì có lợi ích thực tiển.

  • ODBC (Open Database Connectivity): ODBC được thiết kế để cho phép users nối với đủ loại databases mà chỉ dùng một method duy nhất. Điều nầy cất bớt gánh nặng cho lập trình viên, để chỉ cần học một kỹ thuật lập trình duy nhất mà có thể làm việc với bất cứ loại database nào. Nhất là khi sau nầy nếu cần phải thay đổi loại database, như nâng cấp từ Access lên SQLServer chẳng hạn, thì sự sửa đổi về coding rất ít. Khi dùng ODBC chung với DAO, ta có thể cho Access Database nối với các databases khác. Có một bất lợi của ODBC là nó rắc rối.

  • RDO (Remote Data Object): Một trong những lý do chính để RDO được thiết kế là giải quyết khó khăn về sự rắc rối của ODBC. Cách lập trình với RDO đơn giản như DAO, nhưng thật ra nó dùng ODBC nên cho phép users nối với nhiều databases. Tuy nhiên, RDO không được thịnh hành lắm.

VB6 tiếp tục hổ trợ các kỹ thuật nói trên, và cho thêm một kỹ thuật truy cập database mới, rất quan trọng, đó là ADO (ActiveX Data Objects). Trong một bài tới ta sẽ học về ADO với những ưu điểm của nó. Tuy nhiên, vì DAO rất đơn giản và hiệu năng nên ta vẫn có thể tiếp tục dùng nó rất hữu hiệu trong hầu hết các áp dụng. Do đó bài nầy và bài kế sẽ tập trung vào những kỹ thuật lập trình phổ biến với DAO.

Cách dùng giản tiện của control Data là đặt nó lên một Form rồi làm việc với những Properties của nó. Bạn hãy bắt đầu một dự án VB6 mới, cho nó tên DataControl bằng cách click tên project trong Project Explorer bên phải rồi edit property Name trong Properties Window.

DoubleClick lên Icon của Control Data trong Toolbox. Một Control Data tên Data1 sẽ hiện ra trên Form. Muốn cho nó nằm bên dưới Form, giống như một StatusBar, hãy set property Align của nó trong Properties Window thành 2 – Align Bottom.

Click bên phải hàng property DatabaseName, kế đó click lên nút browse có ba chấm để chọn một file Access dabase từ giao thoại cho Data1. Ở đây ta chọn E:\Program Files\Microsoft Visual Studio\VB98\BIBLIO.MDB , trong computer của bạn có thể nó nằm trên disk C hay D.

Trong chương trình nầy ta muốn làm việc với table Titles của database BIBLIO.MDB, để xem và edit các records. Để ý property DefaultType của Data1 có trị số 2- UseJet, tức là dùng kỹ thuật DAO, thay vì dùng kỹ thuật ODBC.

Khi bạn click lên property Recordsource của Data1, rồi click lên cái tam giác nhỏ bên phải, một ComboBox sẽ mở ra cho ta thấy danh sách các tables trong database. Bạn hãy chọn Titles. Để ý property RecordsetType của Data1 có trị số là 0 – Table:

Cái từ mới mà ta sẽ dùng thường xuyên khi truy cập dữ liệu trong VB6 là Recordset (bộ records). Recordset là một Set of records, nó có thể chứa một số records hay không có record nào cả. Một record trong Recordset có thể là một record lấy từ một Table. Trong trường hợp ấy có thể ta lấy về tất cả records trong table hay chỉ những records thỏa đúng một điều kiện, thí dụ như ta chỉ muốn lấy các records của những sách xuất bản trước năm 1990 (Year Published < 1990).

Một Record trong Recordset cũng có thể là tập hợp các cột (columns) từ hai (hay ba) tables qua các mối liên hệ one-to-one và one-to-many. Thí dụ như khi lấy các records từ table Titles, ta muốn có thêm chi tiết tên công ty (Company Name) và điện thoại (Telephone) của nhà xuất bản (table Publishers) bằng cách dùng Foreign Key PubID trong table Titles làm Primary Key trong table Publishers để lấy các chi tiết ấy. Nếu bạn chưa nắm vững ý niệm Foreign Key thì hãy đọc lại bài Database.

Trong trường hợp ấy ta có thể xem như có một virtual (ảo) table là tập hợp của hai tables Titles và Publishers.

Bây giờ bạn hãy đặt lên Form 4 labels với captions: Title, Year Published, ISBNPublisher ID. Kế đó cho thêm 4 textboxes tương ứng và đặt tên chúng là txtTitle, txtYearPublished, txtISBNtxtPublisherID.

Chọn textbox txtTitle, rồi set property Datasource của nó trong Properties Window thành Data1. Khi click lên property Datafield của txtTitle và mở ComboBox ra bạn sẽ thấy liệt kê tên các Fields trong table Titles. Đó là vì Data1 được coi như trung gian lấy table Titles từ database. Ở đây ta sẽ chọn cột Title.

Lập lại công tác nầy cho 3 textboxes kia, và chọn các cột Year Published (năm xuất bản), ISBN (số lý lịch trong thư viện quốc tế), và PubID (số lý lịch nhà xuất bản) làm Datafield cho chúng.

Tới đây, mặc dầu chưa viết một hàng code, ta có thể chạy chương trình được rồi. Nó sẽ hiển thị chi tiết của record đầu tiên trong table Titles như dưới đây:

Bạn có thể bấm các nút di chuyển Navigator Buttons để đi đến các record đầu (first), trước (previous), kế (next)cuối (last). Mỗi lần bạn di chuyển đến một record mới là chi tiết của record ấy sẽ hiển thị. Nếu không dùng các Navigator Buttons, ta cũng có thể code để làm công tác tương đưong bằng cách gọi các Recordset methods MoveFirst, MovePrevious, MoveNextMoveLast.

Khi record cuối của Recordset đang hiển thị, nếu ta gọi method MoveLast thì property EOF (End-Of-File) của Recordset trở thành True. Tương tự như vậy, khi record thứ nhất của Recordset đang hiển thị, nếu ta gọi method MovePrevious thì property BOF (Begin-Of-File) của Recordset trở thành True. Nếu một Recordset không có chứa một record nào cả thì cả hai properties EOF và BOF đều là True.

Đặc tính hiển thị dữ liệu trong các textboxex theo đúng record hiện thời (current record) được gọi là data binding hay data bound (buộc vào dữ liệu) và control TextBox hỗ trợ chức năng nầy được nói là Data Aware (biết bà con dữ liệu).

Khi record đầu tiên đang hiển thị, nếu bạn edit Year Published để đổi từ 1985 thành 1983 rồi click Navigator button Next để hiển thị record thứ nhì, kế đó click Navigator button Previous để hiển thị lại record đầu tiên thì bạn sẽ thấy là field Year Published của record đầu tiên đã thật sự được thay đổi (updated) thành 1983.

Điều nầy có nghĩa rằng khi Data1 navigates từ record nầy đến record khác thì nếu record nầy đã có sự thay đổi vì user edited, nó lưu trữ sự thay đổi đó trước khi di chuyển. Chưa chắc là bạn muốn điều nầy, do đó, nếu bạn không muốn user tình cờ edit một record thì bạn có thể set property Locked của các textboxes ấy thành True để user không thể edit các textboxes như trong hình dưới đây:

Bạn có thể tải về cái chương trình tài tử nầy từ đây Datacontrol.zip.

Chỉ định vị trí Database lúc chạy chương trình

Cách chỉ định tên DatabaseName trong giai đoạn thiết kế (at design time) ta đã dùng trước đây tuy tiện lợi nhưng hơi nguy hiểm, vì khi ta cài chương trình nầy lên computer của khách, chưa chắc file database ấy nằm trong một folder có cùng tên. Thí dụ trên computer mình thì database nằm trong folder E:\Program Files\Microsoft Visual Studio\VB98, nhưng trên computer của khách thì database nằm trong folder C:\VB6\DataControl chẳng hạn. Do đó, khi chương trình khởi động ta nên xác định lại vị trí của database. Giả dụ ta muốn để database trong cùng một folder với chương trình đang chạy, ta có thể dùng property Path của Application Object App như sau:

Dim AppFolder As String 
Private Sub Form_Load() 
   ' Fetch Folder where this program EXE resides
   AppFolder = App.Path 
   ' make sure it ends with a back slash
   If Right(AppFolder, 1) <> "\" Then AppFolder = AppFolder & "\" 
   ' Assign Full path database filename to Data1
   Data1.DatabaseName = AppFolder & "BIBLIO.MDB" 
End Sub 

Với cách code nói trên ta sẽ đảm bảo chương trình tìm thấy file database đúng chỗ, không cần biết người ta cài chương trình bạn ở đâu trong hard disk của computer khách.

Nếu bạn đang học VB6 từ xa, khi nộp bài database cho giám thị VB6 mà bạn hardcode (viết chết cứng) vị trí của file database trong lúc thiết kế thì giám thị (tutor) cũng gặp cùng sự khó khăn nầy vì chưa chắc giám thị sẽ chứa database trong một folder có cùng tên như trong harddisk của bạn.

Thêm bớt các Records

Chương trình trên dùng cũng tạm đựợc, nhưng nó không cho ta phương tiện để thêm (add), bớt (delete) các records. Bây giờ bạn hãy để vào Form 5 buttons tên: cmdEdit, cmdNew, cmdDelete, cmdUpdatecmdCancel.

Mặc dầu bạn không thấy, nhưng thật ra Control Data Data1 có một property Recordset và khi ta dùng Navigator buttons là di chuyển từ record nầy đến record khác trong Recordset ấy. Ta có thể nói đến nó bằng Notation (cách viết) Data1.Recordset, và mỗi lần muốn lấy Recordset mới nhất từ database ta dùng method Refresh như Data1.Recordset.Refresh.

Lúc chuơng trình mới khởi động, user đang xem (browsing) các records thì hai buttons UpdateCancel không cần phải làm việc. Do đó ta sẽ nhân tiện Lock (khóa) các textboxes và disable (làm cho bất lực) hai buttons nầy vì không cần dùng chúng.

Trong Sub SetControls dưới đây, ta dùng một parameter gọi là Editing với trị số False hay True tùy theo user đang Browse hay Edit, ta gọi là Browse modeEdit mode. Trong Edit mode, các Textboxes được unlocked (mở khóa) và các nút cmdNew, cmdDeletecmdEdit trở nên bất lực:

Sub SetControls(ByVal Editing As Boolean) 
   ' Lock/Unlock textboxes
   txtTitle.Locked = Not Editing 
   txtYearPublished.Locked = Not Editing 
   txtISBN.Locked = Not Editing 
   txtPublisherID.Locked = Not Editing 
   ' Enable/Disable buttons
   CmdUpdate.Enabled = Editing 
   CmdCancel.Enabled = Editing 
   CmdDelete.Enabled = Not Editing 
   cmdNew.Enabled = Not Editing 
   CmdEdit.Enabled = Not Editing 
End Sub 

Trong Browse mode, Form có dạng như sau:

Sub SetControls được gọi trong Sub Form_Load khi chương trình khởi động và trong Sub CmdEdit khi user click nút Edit như sau:

Private Sub Form_Load() 
   ' Fetch Folder where this program EXE resides
   AppFolder = App.Path 
   ' make sure it ends with a back slash
   If Right(AppFolder, 1) <> "\" Then AppFolder = AppFolder & "\" 
   ' Assign Full path database filename to Data1
   Data1.DatabaseName = AppFolder & "BIBLIO.MDB" 
  ' Place controls in Browse Mode
   SetControls (False) 
End Sub 

Private Sub CmdEdit_Click() 
  ' Place controls in Edit Mode
  SetControls (True) 
End Sub 

Khi ta Delete một record trong recordset, vị trí của record hiện tại (current record) vẫn không thay đổi. Do đó, sau khi delete một record ta phải MoveNext. Khổ nổi, nếu ta vừa delete record cuối của Recordset thì sau khi MoveNext, property EOF của Recordset sẽ thành True. Thành ra ta phải kiểm tra điều đó, nếu đúng vậy thì lại phải MoveLast để hiển thị record cuối của Recordset như trong code của Sub cmdDelete_Click dưới đây:

Private Sub CmdDelete_Click() 
   On Error GoTo DeleteErr 
   With Data1.Recordset 
      ' Delete new record
      .Delete 
      ' Move to next record
      .MoveNext 
      If .EOF Then .MoveLast 
      Exit Sub 
   End With 
DeleteErr: 
   MsgBox Err.Description 
   Exit Sub 
End Sub 

Trong lúc code, ta Update (cập nhật hóa) một record trong Recordset bằng method Update. Nhưng ta chỉ có thể gọi method Update của một Recordset khi Recordset đang ở trong Edit hay AddNew mode. Ta đặt một Recordset vào Edit mode bằng cách gọi method Edit của Recordset, thí dụ như Data1.Recordset.Edit. Tương tự như vậy, ta đặt một Recordset vào AddNew mode bằng cách gọi method AddNew của Recordset, thí dụ như Data1.Recordset.AddNew.

Private Sub cmdNew_Click() 
   ' Place Recordset into Recordset AddNew mode
   Data1.Recordset.AddNew 
   ' Place controls in Edit Mode
   SetControls (True) 
End Sub 

Sau khi Recordset gọi method Update thì Recordset ấy ra khỏi AddNew hay Edit modes. Ta cũng có thể tự thoát ra khỏi AddNew hay Edit modes, hay nói cho đúng hơn là hủy bỏ mọi pending (đang chờ đợi) Update bằng cách gọi method CancelUpdate, thí dụ như Data1.Recordset.CancelUpdate.

Bạn có thể tải về chương trình nầy từ đây DataEdit.zip.

Dùng DataBound Combo

Trong chương trình hiện tại ta chỉ hiển thị lý lịch nhà xuất bản (PubID) của Title, chớ không có thêm chi tiết. Phải chi mặc dầu chương trình lưu trữ PubID, nhưng hiển thị được Company Name của nhà xuất bản cho ta làm việc để khỏi phải nhớ các con số thì hay quá. Ta có thể thực hiện điều đó bằng cách dùng Control DBCombo (Data Bound Combo). Bạn hãy dùng IDE Menu Command Project | Components… để chọn Microsoft Data Bound List Controls 6.0 rồi click Apply.

Kế đó, thêm một DBCombo tên DBCombo1 vào Form. Vì ta cần một Recordset khác để cung cấp Table Publisher cho DBCombo1, nên bạn hãy thêm một control Data thứ nhì tên Data2 vào Form. Cho Data2, hãy set property DatabaseName thành E:\Program Files\Microsoft Visual Studio\VB98\BIBLIO.MDB và property RecordSource thành Publishers. Để không cho người ta thấy hình Data2 lúc run-time, bạn hãy set property Visible nó thành False.

Cái mục đích của chúng ta khi dùng DBCombo1 là hiển thị Company Name của nhà xuất bản, nhưng đằng sau lưng thì không có gì thay đổi, tức là ta vẫn làm việc với PubID cho các record Title của Data1. Khi user click lên DBCombo1 để chọn một nhà xuất bản, thì ta theo Company Name đó mà chứa PubID tương ứng trong record Title của Data1. Do đó có nhiều thứ ta phải sắp đặt cho DBCombo1 như sau:

Property

Value

Chú thích

RowSource

Data2

Đây là datasource của chính DBCombo1. Nó cung cấp table Publishers.

Listfield

Company Name

Khi RowSource phía trên đã được chọn rồi, Combo của property Listfield nầy sẽ hiển thị các fields của table Publishers.  Company Name là field của RowSource mà ta muốn hiển thị trên DBCombo1.

DataSource

Data1

Đây là datasource của record mà ta muốn. edit, tức là record của table Titles

Datafield

PubID

Field (của record Title) sẽ được thay đổi.

BoundColumn

PubID

Field trong RowSource (table Publishers) tương ứng với item user chọn trong DBCombo1 (Company Name).

Khi trong Edit mode user chọn một Company Name khác trong DBCombo1 rồi click nút Update bạn sẽ thấy Textbox txtPublisherID cũng đổi theo và hiển thị con số lý lịch PubID mới. Nếu trước khi Update bạn muốn thấy PubID mới hiển thị trong Textbox txtPublisherID thì bạn có thể dùng Event Click của DBCombo1 như sau:

Private Sub DBCombo1_Click(Area As Integer) 
   ' Display new PuBID
   txtPublisherID.Text = DBCombo1.BoundText 
End Sub 

Property BoundText của DBCombo1 là trị số của BoundColumn mà ta có thể truy cập (viết hay đọc) được. Thí dụ như bạn muốn mỗi khi thêm một record Title mới thì default PubID là 324, tức là Company Name= “GLOBAL ENGINEERING”. Bạn có thể assign trị số 324 vào property BoundText của DBCombo1 trong Sub cmdNew_Click như sau:

Private Sub cmdNew_Click() 
   ' Place Recordset into Recordset AddNew mode
   Data1.Recordset.AddNew 
   ' Default Publisher is "GLOBAL ENGINEERING", i.e. PubID=324
   DBCombo1.BoundText = 324 
   ' Place controls in Edit Mode
   SetControls (True) 
End Sub 

Bạn có thể tải về chương trình nầy từ đây DataBound.zip.

Trong bài tới ta sẽ học thêm về cách coding để dùng Recordset trong kỹ thuật DAO.

 

 

Chương Mười Lăm – Lập trình với kỹ thuật DAO

Reference DAO

Trong bài nầy ta sẽ học những cách lập trình căn bản với MS Access database qua kỹ thuật DAO mà không cần dùng đến Control Data  như trong bài trước. Ta sẽ cần đến vài Objects trong thư viện DAO, do đó nếu bạn mở một dự án VB6 mới thì hãy dùng Menu Command Project | References… để chọn Microsoft DAO 3.51 Object Library bằng cách click cái checkbox bên trái như trong hình dưới đây. (Một cách để nhớ tên của Object nầy là nhớ câu “thằng cha cua ĐÀO 35 con dê”).

Sau đó trong code của Form chính ta sẽ declare variable myDatabase cho một instance của DAO database và variable myRS cho một DAO recordset. Ở đây ta nói rõ Database và Recordset là thuộc loại DAO để phân biệt với Database và Recordset thuộc loại ADO (ActiveX Data Object) sau nầy. Để ý là Intellisense giúp ta trong lúc viết code:

Bây giờ bạn hãy đặt lên Form chính, tên frmDAO, 4 labels với captions: Title, Year Published, ISBNPublisher ID. Kế đó cho thêm 4 textboxes tương ứng và đặt tên chúng là txtTitle, txtYearPublished, txtISBNtxtPublisherID.

Điều ta muốn làm là khi Form mới được loaded, nó sẽ lấy về từ database một Recordset chứa tất cả records trong table Titles theo thứ tự về mẫu tự (alphabetical order) của field Title và hiển thị record đầu tiên.

Dùng keyword SET

Chuyện trước hết là mở một Database Object dựa vào tên đầy đủ (full path name) của Access database:

' Open main database
Set myDB = OpenDatabase(AppFolder & "BIBLIO.MDB") 

Để ý chữ Set trong câu code trên. Đó là vì myDB là một Pointer đến một Object. Mặc dầu từ rày về sau ta sẽ dùng myDB như một Database theo cách giống như bất cứ variable thuộc data type nào khác, nhưng khi chỉ định lần đầu là nó từ đâu đến thì ta dùng chữ Set, để nói rằng thật ra myDB không phải là Object Database, nhưng là Pointer đến Object Database. Điểm nầy càng nói đến càng khó hiểu.

Đại khái là VB6 runtime dynamically allocates (dành ra cho khi cần) một phần trong bộ nhớ (memory) để chứa Object Database khi ta nhận được nó từ execution của Method OpenDatabase. Dầu vị trí chỗ chứa Object Database trong bộ nhớ không nhất định, nhưng vì ta nắm cái cán chỉ đến vị trí ấy nên ta vẫn có thể làm việc với nó một cách bình thường. Cái cán ấy là value (trị số) của variable myDB. Vì value nầy không phải là Object, nhưng nó chứa memory address chỉ đến (point to hay refer to) Object Database, nên ta gọi nó là Pointer.

Lập trình dùng Pointer nói chung rất linh động là hiệu năng trong các ngôn ngữ như C, Pascal, C++ ,v.v.. Tuy nhiên, lập trình viên phải nhớ trả lại Operating System phần memory mình dùng khi không còn cần nó nữa để Operating System lại allocate cho Object khác. Nếu công việc quản lý dùng lại memory không ổn thỏa thì có những mảnh memory nằm lang bang mà Operating Sytem không biết. Lần lần Operating System sẽ không còn memory dư nữa. Ta gọi hiện tượng ấy là memory leakage (rỉ). Các ngôn ngữ sau nầy như Java, C# đều không dùng Pointer nữa. Visual Basic không muốn lập trình viên dùng Pointer. Chỉ trong vài trường hợp đặc biệt VB6 mới lộ ra cho ta thấy thật ra ở trong hậu trường VB6 Runtime dùng Pointer, như trong trường hợp nầy.

Tương tự như vậy, vì Recordset là một Pointer đến một Object, ta cũng dùng Set khi chỉ định một DAO Recordset lấy về từ Method OpenRecordset của database myDB.

'Open recordset
Set myRS = myDB.OpenRecordset("Select * from Titles ORDER BY Title") 

Cái parameter loại String ta dùng cho method OpenRecordset là một Lệnh (Statement) SQL. Nó chỉ định cho database lấy tất cả mọi fields (columns) (Select *) của mỗi record từ Table Titles (from Titles) làm một Recordset và sort các records trong Recordset ấy theo alphabetical order của field Title (ORDER BY Title).

Nhớ là Recordset nầy cũng giống như property Recordset của một Control Data mà ta dùng trong bài trước. Bây giờ có Recordset rồi, ta có thể hiển thị chi tiết của record đầu tiên nếu Recordset ấy có ít nhất một record. Ta kiểm tra điều ấy dựa vào property RecordCount của Recordset như trong code dưới đây:

Private Sub Form_Load() 
   ' Fetch Folder where this program EXE resides
   AppFolder = App.Path 
   ' make sure it ends with a back slash
   If Right(AppFolder, 1) <> "\" Then AppFolder = AppFolder & "\" 
   ' Open main database
   Set myDB = OpenDatabase(AppFolder & "BIBLIO.MDB") 
   'Open recordset
   Set myRS = myDB.OpenRecordset("Select * from Titles ORDER BY Title") 
   ' if Recordset is not empty then display the first record
   If myRS.RecordCount > 0 Then 
      myRS.MoveFirst  ' move to first record
      Displayrecord  ' display details of current record
   End If 
End Sub 

Sau khi dùng method MoveFirst của Recordset để position current record ở Record đầu tiên, ta hiển thị trị số các fields của record bằng cách assign chúng vào các textboxes của Form như sau:

Private Sub Displayrecord() 
   ' Assign record fields to the appropriate textboxes
   With myRS 
      ' Assign field Title to textbox txtTitle
      txtTitle.Text = .Fields("Title") 
      txtYearPublished.Text = .Fields("[Year Published]") 
      txtISBN.Text = .Fields("ISBN") 
      txtPublisherID.Text = .Fields("PubID") 
   End With 
End Sub 

Để ý vì field Year Publshed gồm có hai chữ nên ta phải đặt tên của field ấy giữa hai dấu ngoặc vuông ([]). Để tránh bị phiền phức như trong trường hợp nầy, khi bạn đặt tên database field trong lúc thiết kế một table hãy dán dính các chữ lại với nhau, đừng để rời ra. Thí dụ như dùng YearPublished thay vì Year Published.

Các nút di chuyển

Muốn có các nút Navigators tương đương với của một Control Data, bạn hãy đặt lên Form 4 buttons mang tên CmdFirst, CmdPrevious, CmNextCmdLast với captions: <<, <, >, >>.

Code cho các nút nầy cũng đơn giản, nhưng ta phải coi chừng khi user muốn di chuyển quá record cuối cùng hay record đầu tiên. Ta phải kiểm tra xem EOF có trở thành True khi user click CmdNext, hay BOF có trở thành True khi user click CmdPrevious:

Private Sub CmdNext_Click() 
   myRS.MoveNext  ' Move to next record
   ' Display record details if has not gone past the last record
   If Not myRS.EOF Then 
      Displayrecord  ' display details of current record
   Else 
      myRS.MoveLast  ' Move back to last record
   End If 
End Sub 

Private Sub CmdPrevious_Click() 
   myRS.MovePrevious  ' Move to previous record
   ' Display record details if has not gone past the first record
   If Not myRS.BOF Then 
      Displayrecord  ' display details of current record
   Else 
      myRS.MoveFirst  ' Move back to first record
   End If 
End Sub 

Private Sub CmdFirst_Click() 
   myRS.MoveFirst  ' Move back to first record
   Displayrecord  ' display details of current record
End Sub 

Private Sub CmdLast_Click() 
   myRS.MoveLast  ' Move back to last record
   Displayrecord  ' display details of current record
End Sub 

Khi chạy chương trình bạn sẽ thấy nó hiển thị chi tiết của Record đầu tiên khác với trong bài trước đây vì các records đã được sorted:

Bạn hãy thử dùng các Navigator buttons cây nhà, lá vườn của mình xem chúng làm việc có đúng không.

Tới đây, không biết bạn có để ý là dù user có vô tình sửa đổi một chi tiết nào trong các textboxes, không có record nào bị cập nhật hóa trong database khi user di chuyển từ record nầy đến record khác. Lý do là các Texboxes không có Data Bound với các Fields của Recordset.

Thêm bớt các Records

Giống như chương trình trong bài rồi, ta sẽ thêm phương tiện để thêm (add), bớt (delete) các records. Bây giờ bạn hãy để vào Form 5 buttons tên: cmdEdit, cmdNew, cmdDelete, cmdUpdatecmdCancel.

Chỗ nào trong chương trình trước ta dùng Data1.Recordset thì bây giờ ta dùng myRS.

Ta sẽ dùng lại Sub SetControls với parameter Editing có trị số False hay True tùy theo user đang Browse hay Edit. Trong Browse mode, các Textboxes bị Locked (khóa) và các nút cmdUpdatecmdCancel trở nên bất lực. Trong Edit mode, các Textboxes được unlocked (mở khóa) và các nút cmdNew, cmdDeletecmdEdit trở nên bất lực.

Vì ở đây không có Data Binding nên đợi cho đến khi Update (cập nhật hóa) ta mới đặt Recordset vào AddNew hay Edit mode. Do đó ta chỉ cần nhớ là khi user edits là đang Edit một record hiện hữu hay thêm một Record mới. Ta chứa trị số Boolean ấy trong variable AddNewRecord. Nếu user sắp thêm một record mới thì AddNewRecord = True, nếu User sắp Edit một record hiện hữu thì AddNewRecord = False.

Ngoài ra, khi User sắp thêm một record mới bằng cách click nút New thì ta phải tự clear (làm trắng) hết các textboxes bằng cách assign Empty string vào text property của chúng như sau:

' If Editing existing record then AddNewRecord = False
' Else AddNewRecord = true
Dim AddNewRecord As Boolean 

Private Sub ClearAllFields() 
   ' Clear all the textboxes
   txtTitle.Text = "" 
   txtYearPublished.Text = "" 
   txtISBN.Text = "" 
   txtPublisherID.Text = "" 
End Sub 

Private Sub cmdNew_Click() 
   ' Remember that this is Adding a new record
   AddNewRecord = True 
   ' Clear all textboxes
   ClearAllFields 
   ' Place controls in Edit Mode
   SetControls (True) 
End Sub 

Private Sub CmdEdit_Click() 
   ' Place controls in Edit Mode
   SetControls (True) 
   ' Remember that this is Editing an existing record
   AddNewRecord = False 
End Sub 

Nếu user clicks Cancel trong khi đang edit các textboxes, ta không cần gọi method CancelUpdate vì Recordset chưa bị đặt vào AddNew hay Edit mode. Ở đây ta chỉ cần hiển thị lại chi tiết của current record, tức là hủy bỏ những gì user đang đánh vào:

Private Sub CmdCancel_Click() 
   ' Cancel update
   SetControls (False) 
   ' Redisplay details or current record
   Displayrecord 
End Sub 

Lúc user clicks Update, bạn có dịp để kiểm tra data xem có field nào bị bỏ trống (nhất là Primary Key ISBN bắt buộc phải có trị số) hay có gì không valid bằng cách gọi Function GoodData. Nếu GoodData trả lại một trị số False thì ta không xúc tiến với việc Update. Nếu GoodData trả về trị số True thì ta đặt Recordset vào AddNew hay Edit mode tùy theo trị số của Boolean variable AddNewRecord.

Giống như khi hiển thị chi tiết của một Record ta phải assign từng Field vào textbox, thì bây giờ khi Update ta phải làm ngược lại, tức là assign property Text của từng textbox vào Record Field tương ứng. Sau cùng ta gọi method Update của recordset và cho các controls trở lại Browse mode:

Private Function GoodData() As Boolean 
   ' Check Data here. If Invalid Data then GoodData = False
   GoodData = True 
End Function 

Private Sub CmdUpdate_Click() 
   ' Verify all data, if Bad then do not Update
   If Not GoodData Then Exit Sub 
   ' Assign record fields to the appropriate textboxes
   With myRS 
      If AddNewRecord Then 
         .AddNew  ' Place Recordset in AddNew Mode
      Else 
         .Edit  ' Place Recordset in Edit Mode
      End If 
      ' Assign text of txtTitle to field Title
      .Fields("Title") = txtTitle.Text 
      .Fields("[Year Published]") = txtYearPublished.Text 
      .Fields("ISBN") = txtISBN.Text 
      .Fields("PubID") = txtPublisherID.Text 
      ' Update data
      .Update 
   End With 
   ' Return controls to Browse Mode
   SetControls (False) 
End Sub 

Cũng vì không có Data Binding, nên khi User Delete một record, sau khi di chuyển qua record kế tiếp ta phải tự hiển thị chi tiết của record đó như sau:

Private Sub CmdDelete_Click() 
   On Error GoTo DeleteErr 
   With myRS 
      ' Delete new record
      .Delete 
      ' Move to next record
      .MoveNext 
      If .EOF Then .MoveLast 
      ' Display details of current record
      Displayrecord 
      Exit Sub 
   End With 
DeleteErr: 
   MsgBox Err.Description 
   Exit Sub 
End Sub 

Tìm một record

Tiếp theo đây, ta muốn liệt kê các sách có tiêu đề chứa một chữ hay câu nào đó, thí dụ như chữ “Guide“. Kế đó user có thể chọn một sách bằng cách select tiêu đề sách ấy và click nút Go. Chương trình sẽ locate (tìm ra) record của sách ấy và hiển thị chi tiết của nó.

Bây giờ bạn hãy cho vào Form một textbox tên txtSearch và một Image tên ImgSearch. Kế đó đặt một frame tên fraSearch vào Form. Để lên frame nầy một listbox tên List1 để hiển thị tiêu đề các sách, và hai buttons tên CmdCloseCmdGo, với caption Close và Go. Sau khi select một sách trong List1, user sẽ click nút Go để hiển thị chi tiết sách ấy. Nếu đổi ý, user sẽ click nút Close để làm biến mất frame fraSearch.

Bình thường frame fraSearch chỉ hiện ra khi cần, nên lúc đầu hãy set property Visible của nó thành False. Ta sẽ cho ImgSearch hiển thị hình một ống dòm nên bạn hãy click vào bên phải property Picture trong Properties Window để chọn Icon BINOCULR.ICO từ folder E:\Program Files\Microsoft Visual Studio\Common\Graphics\Icons\Misc:

Cái Primary Key của table Titles là ISBN. Khi user select một sách ta muốn biết ISBN của sách ấy để locate (định chỗ) nó trong Recordset myRS. Do đó trong khi thêm tiêu đề của một sách vào List1, ta đồng thời thêm ISBN của sách ấy vào một Listbox thứ hai tên List2. Ta chỉ sẽ dùng List2 sau hậu trường, nên hãy set property Visible của nó thành False. Dưới đây là code để load tiêu đề sách và ISBN vào các Listboxes:

Private Sub ImgSearch_Click() 
   ' Show Search Frame
   fraSearch.Visible = True 
   Dim SrchRS As DAO.Recordset 
   Dim SQLCommand As String 
   ' Define SQL statement
   SQLCommand = "Select * from Titles where Title LIKE '" & "*" & txtSearch & "*" & "' ORDER BY Title" 
   ' Fetch all records having Title containing the text pattern given by txtSearch
   Set SrchRS = myDB.OpenRecordset(SQLCommand) 
   ' If Recordset is not Empty then list the books' titles in List1
   If SrchRS.RecordCount > 0 Then 
      List1.Clear  ' Clear List1
      ' We use List2 to contain the Primary Key ISBN corresponding to the books in List1
      List2.Clear  ' Clear List2
      With SrchRS 
         ' Iterate through the Recordset until EOF
         Do While Not SrchRS.EOF 
            ' Display Title in List1
            List1.AddItem .Fields("Title") 
            ' Store corresponding ISBN in List2
            List2.AddItem .Fields("ISBN") 
            .MoveNext  ' Move to next record in the Recordset
         Loop 
      End With 
   End If 
End Sub 

Khi user Click ImgSearch với text pattern là chữ Guide, ta sẽ thấy hình dưới đây:

Trong SELECT statement bên trên ta dùng operator LIKE trên text pattern, chữ Guide, có wildcard character (*) ở hai bên. Wildcard character là chỗ có (hay không có) chữ gì cũng được. Trong trường hợp nầy có nghĩa là hễ có chữ Guide trong tiêu đề sách là được, không cần biết nó nằm ở đâu. Ngoài ra sự chọn lựa nầy Không có Case Sensitive, tức là chữ guide, Guide hay GUIDE đều được cả.

Khi user clicks nút Go, ta sẽ dùng method FindFirst của Recordset myRS để định chỗ của record có trị số Primary Key là hàng text trong List2 tương ứng với tiêu đề dược chọn trong List1 như sau:

Private Sub CmdGo_Click() 
   Dim SelectedISBN As String 
   Dim SelectedIndex As Integer 
   Dim Criteria As String 
   ' Index of line selected by user in List1
   SelectedIndex = List1.ListIndex 
   ' Obtain corresponding ISBN in List2
   SelectedISBN = List2.List(SelectedIndex) 
   ' Define Search criteria - use single quotes for selected text
   Criteria = "ISBN = '" & SelectedISBN & "'" 
   ' Locate the record, it will become the current record
   myRS.FindFirst Criteria 
   ' Display details of current record
   Displayrecord 
   ' Make fraSearch disappeared
   fraSearch.Visible = False 
End Sub 

Lưu ý là trong string Criteria, vì ISBN thuộc loại text, chớ không phải là một con số, nên ta phải kẹp nó giữa hai dấu ngoặc đơn.

Bookmark

Khi di chuyển từ record nầy đến record khác trong Recordset, đôi khi ta muốn đánh dấu vị trí của một record để có dịp sẽ trở lại. Ta có thể thực hiện điều ấy bằng cách ghi nhớ Bookmark của Recordset.

Thí dụ khi user clicks nút Go, ta muốn nhớ vị trí của record lúc ấy để sau nầy quay trở lại khi User clicks nút Go Back. Bạn hãy thêm vào Form một button tên CmdGoBack với Caption Go Back. Ta sẽ thêm một variable tên LastBookmark loại data type Variant:

Dim LastBookMark As Variant 

Lúc đầu button CmdGoBack invisible, và chỉ trở nên visible sau khi user clicks nút Go. Ta thêm các hàng codes sau vào Sub CmdGo_Click() như sau:

' Remember location of current record
LastBookMark = myRS.BookMark 
CmdGoback.Visible = True 

Dưới đây là code để quay trở lại vị trí current record trước đây trong Recordset:

Private Sub CmdGoback_Click() 
   ' Reposition record to last position
   myRS.BookMark = LastBookMark 
   ' Redisplay details or current record
   Displayrecord 
End Sub 

LastModified

LastModified là vi trị của record vừa mới được sửa đổi hay thêm vào trong Recordset. Để thử điều nầy bạn hãy thêm một button invisible tên CmdLastModified với caption là Last Modified. Button nầy chỉ hiện ra sau khi user clicks Update. Bất cứ lúc nào bạn Click nút CmdLastModified, record mới vừa được sửa đổi hay thêm vào sẽ hiển thị:

Private Sub CmdLastModified_Click() 
   ' Reposition record to last position
   myRS.BookMark = myRS.LastModified 
   ' Redisplay details or current record
   Displayrecord 
End Sub 

Dưới đây là hình của Form lúc đang được thiết kế:

Bạn có thể tải về chương trình nầy từ đây DAOPRJ.zip. Nhớ copy MS Access file BIBLIO.MDB, tức là database, vào trong cùng folder của chương trình trước khi chạy thử.

Ta sẽ học kỹ thuật ADO (ActiveX Data Object) trong bài tới.

 

Chương Mười Sáu – Lập trình với ADO (phần I)

Control Data ADO

Visual Basic 6 cho ta sự lựa chọn về kỹ thuật khi lập trình với database, hoặc là dùng DAO như trong hai bài trước, hoặc là dùng ADO (ActiveX Data Objects).

Sự khác biệt chính giữa ADO và DAO là ADO cho phép ta làm việc với mọi loại nguồn dữ kiện (data sources), không nhất thiết phải là Access database hay ODBC. Nguồn dữ kiện có thể là danh sách các địa chỉ Email, hay một file text string, trong đó mỗi hàng là một record gồm những fields ngăn cách bởi các dấu phẩy (comma separated values).

Nếu trong DAO ta dùng thẳng tên của MSAccess Database thì trong ADO cho ta nối với (connect) một database qua một Connection bằng cách chỉ định một Connection String. Trong Connection String có Database Provider (thí dụ như Jet, ISAM, Oracle, SQLServer..v.v.), tên Database, UserName/Password để logon một database .v.v.. Sau đó ta có thể lấy về (extract) những recordsets, và cập nhật hóa các records bằng cách dùng những lệnh SQL trên các tables hay dùng những stored procedures bên trong database.

Bình thường, khi ta mới khởi động một project VB6 mới, Control Data ADO không có sẵn trong IDE. Muốn có nó, bạn hãy dùng Menu Command Project | Components…, rồi chọn Microsoft ADO Data Control 6.0 (OLEDB) từ giao diện Components như dưới đây:

Bạn hãy bắt đầu một dự án VB6 mới, cho nó tên ADODataControl bằng cách click tên project trong Project Explorer bên phải rồi edit property Name trong Properties Window. Sửa tên của form chính thành frmADO, và đánh câu ADO DataControl Demo vào Caption của nó.

DoubleClick lên Icon của Control Data ADO trong Toolbox. Một Control Data ADO tên Adodc1 sẽ hiện ra trên Form. Muốn cho nó nằm bên dưới Form, giống như một StatusBar, hãy set property Align của nó trong Properties Window thành 2 – vbAlignBottom.

Click bên phải hàng property (Custom), kế đó click lên nút browse có ba chấm để giao thoại Property Pages hiện ra. Trong giao thoại nầy, trên Tab General chọn Radio (Option) Button Use Connection String rồi click nút Build….

Trong giao thoại Data Link Properties, Tab Provider, chọn Microsoft Jet 3.51 OLE DB Provider, rồi click nút Next >> hay Tab Connection.

Ở chỗ Select or enter a database name ta chọn E:\Program Files\Microsoft Visual Studio\VB98\BIBLIO.MDB, trong computer của bạn có thể file ấy nằm trên disk C hay D. Sau đó, bạn có thể click nút Test Connection phía dưới để thử xem connection có được thiết lập tốt không.

Lập connection xong rồi, ta chỉ định muốn lấy gì về làm Recordset bằng cách click property Recordsource của Adodc1. Trong giao diện Property Pages của nó chọn 2-adCmdTable làm Command Type, kế đó mở Combo box cho Table or Stored Procedure Name để chọn table Titles.

Tùy theo cách ta dùng Recordset trong ADO, nó có ba loại và được gọi là Cursor Type. Cursor chẳng qua là một tên khác của Recordset:

  • Static Cursor: Static Cursor cho bạn một static copy (bản sao cứng ngắc) của các records. Trong lúc bạn dùng Static Cursor, nếu có ai khác sửa đổi hay thêm, bớt gì vào recordset bạn sẽ không thấy.

  • Keyset Cursor: Keysey Cursor hơn Static Cursor ở chỗ trong lúc bạn dùng nó, nếu có ai sửa đổi record nào bạn sẽ biết. Nếu ai delete record nào, bạn sẽ không thấy nó nữa. Tuy nhiên bạn sẽ không biết nếu có ai thêm một record nào vào recordset.

  • Dynamic Cursor: Như chữ sống động (dynamic) hàm ý, trong lúc bạn đang dùng một Dynamic Cursor, nếu có ai khác sửa đổi hay thêm, bớt gì vào recordset bạn sẽ thấy hết.

Bạn hãy chọn trị số 2-adOpenDynamic cho property Cursor Type của Adodc1:

Bây giờ bạn hãy đặt lên Form 4 labels với captions: Title, Year Published, ISBNPublisher ID. Kế đó cho thêm 4 textboxes tương ứng và đặt tên chúng là txtTitle, txtYearPublished, txtISBNtxtPublisherID.

Để thực hiện Data Binding, bạn hãy chọn textbox txtYearPublished (năm xuất bản), rồi set property Datasource của nó trong Properties Window thành Adodc1. Khi click lên property DataField của txtYearPublished và mở ComboBox ra bạn sẽ thấy liệt kê tên các Fields trong table Titles. Đó là vì Adodc1 được coi như trung gian lấy table Titles từ database. Ở đây ta sẽ chọn cột Year Published.

Lập lại công tác nầy cho 3 textboxes kia, và chọn các cột Title (Tiêu đề), ISBN (số lý lịch trong thư viện quốc tế), và PubID (số lý lịch nhà xuất bản) làm DataField cho chúng.

Đến đây, mặc dầu chưa viết một hàng code nào, bạn có thể chạy chương trình và nó sẽ hiển thị như dười đây:

Bạn có thể tải về chương trình dùng Control Data ADO nầy từ đây ADODatacontrol.zip.

Data Form Wizard

Để giúp lập trình viên thiết kế các data forms nhanh hơn, VB6 cho ta Data Form Wizard để generate (phát sinh) ra một form có hỗ trợ Edit, Add và Delete records.

Bây giờ bạn hãy khởi động một standard project VB6 mới, tên ADOClass và copy MS Access file BIBLIO.MDB, tức là database, vào trong cùng folder của dự án mới nầy.

Muốn dùng Data Form Wizard, trước hết ta phải thêm nó vào môi trường phát triển (IDE) của VB6. Bạn hãy dùng IDE Menu Command Add-Ins | Add-In Manager…. Chọn VB6 Data Form Wizard trong giao thoại, rồi click Checkbox Loaded/Unloaded để chữ Loaded hiện bên phải hàng “VB6 Data Form Wizard” như trong hình dưới đây:

Nếu bạn muốn mỗi lần khởi động VB6 IDE là có sẵn Data Form Wizard trong menu Add-Ins thì ngoài option Loaded, bạn click thêm check box Load on Startup.

Một Add-In là một menu Item mới mà ta có thể thêm vào một chương trình ứng dụng có sẵn. Thường thường, người ta dùng Add-Ins để thêm chức năng cho một chương trình, làm như là chương trình đã có sẵn chức năng ấy từ đầu. Bạn hãy khởi động Data Form Wizard từ IDE Menu Command mới Add-Ins | Data Form Wizard…

Khi trang Data Form Wizard – Introduction hiện ra, click Next

Trong trang kế đó chọn Access làm Database Type.

Trong trang Database, click Browse để chọn một MS Access database file. Ở đây ta chọn file BIBLIO.MDB từ chính folder của chương trình nầy. Đoạn click Next.

Trong trang Form, ta chọn Single Record cho Form LayoutClass cho Binding Type. Đoạn click Next. Nếu ta chọn ADO Data Control thì kết quả sẽ giống giống như khi ta dùng Control Data DAO như trong một bài trước.

Trong trang Record Source ta chọn table Titles. Listbox của Available Fields sẽ hiển thị các fields của table Titles. Sau khi chọn một field bằng cách click lên tên field ấy trong Listbox, nếu bạn click hình tam giác chỉ qua phải thì tên field ấy sẽ được dời qua nằm dưới cùng trong Listbox Selected Fields bên phải.

Nếu bạn click hình hai tam giác chỉ qua bên phải thì tất cả mọi fields còn lại bên trái sẽ được dời qua bên phải. Bạn cũng có thể sắp đặt vị trí của các selected fields bằng cách click lên tên field ấy rồi click hình mũi tên chỉ lên hay xuống để di chuyển field ấy lên hay xuống trong danh sách các fields.

Ngoài ra, bạn hãy chọn Title làm Column to Sort By trong cái Combobox của nó để các records trong Recordset được sắp xếp theo thứ tự ABC (alphabetical order) của field Tiêu đề (Title).

Trong trang Control Selection, ta sẽ để y nguyên để có đủ mọi buttons. Bạn hãy click Next.

Khi Data Form Wizard chấm dứt, nó sẽ generate form frmADODataForm. Bạn hãy remove Form1 và dùng Menu Command Project | ADODataControl Properties… để đổi Startup Object thành frmADODataForm. Thế là tạm xong chương trình để Edit các records của table Titles.

Chúng ta hãy quan sát cái Form và phần code được Data Form Wizard generated. Trong frmADODataForm, các textboxes làm thành một array tên txtFields. Mọi textbox đều có property DataField định sẵn tên field của table Titles. Thí dụ như txtFields(2) có DataField là ISBN. Form chính không dùng Control Data ADO nhưng dùng một Object của class clsTitles.

Phần Initialisation của class clsTitles là Open một Connection và lấy về một Dataset có tên DataMemberPrimary như sau:

Private Sub Class_Initialize() 
   Dim db As Connection 
   Set db = New Connection 
   db.CursorLocation = adUseClient 
   ' Open connection
   db.Open "PROVIDER=Microsoft.Jet.OLEDB.3.51;Data Source=E:\Websites\Vovisoft\VisualBasic\ADOForm\BIBLIO.MDB;" 
   ' Instantiate ADO recordset
   Set adoPrimaryRS = New Recordset 
   ' Retrieve data for Recordset
   adoPrimaryRS.Open "select Title,[Year Published],ISBN,Description,Notes,PubID from Titles Order by Title", _ 
                                                   db,  adOpenStatic, adLockOptimistic 
   ' Define the only data member, named Primary
   DataMembers.Add "Primary" 
End Sub 

Về vị trí của database, nếu bạn không muốn nó chết cứng ở một folder nào thì dùng App.Path để xác định mối liên hệ giữa vị trí của database và folder của chính chương trình đang chạy, thí dụ như:

db.Open "PROVIDER=Microsoft.Jet.OLEDB.3.51;Data Source=" & App.Path & "\BIBLIO.MDB;" 

Trong Sub Form_Load, ta có thể dùng For Each để đi qua hết các textboxes trong array txtFields. Vì property Datasource của textbox là một Object nên ta dùng keyword Set để point nó đến Object PrimaryCLS. Đồng thời ta cũng phải chỉ định tên của DataMember của mỗi textbox là Primary:

Private Sub Form_Load() 
   ' Instantiate an Object of class clsTitles
   Set PrimaryCLS = New clsTitles 
   Dim oText As TextBox 
   ' Iterate through each textbox in the array txtFields
   'Bind the text boxes to the data source, i.e. PrimaryCLS
   For Each oText In Me.txtFields 
      oText.DataMember = "Primary" 
      ' Use Set because property Datasource is an Object
      Set oText.DataSource = PrimaryCLS 
   Next 
End Sub 

Khi sự di chuyển từ record nầy đến record khác chấm dứt, chính Recordset có raise Event MoveComplete. Event ấy được handled (giải quyết) trong class clsTitles bằng cách lại raise Event MoveComplete để nó được handled trong Form.

Muốn handle Event trong clsTitles ta phải declare recordset adoPrimaryRS với WithEvents:

Dim WithEvents adoPrimaryRS As Recordset 
Private Sub adoPrimaryRS_MoveComplete(ByVal adReason As ADODB.EventReasonEnum, _
   ByVal pError As ADODB.Error, adStatus As ADODB.EventStatusEnum, ByVal pRecordset As ADODB.Recordset) 
   ' Raise event to be handled by main form
   RaiseEvent MoveComplete 
End Sub  

Và trong Form ta cũng phải declare (object clsTitles) PrimaryCLS với WithEvents:

Private WithEvents PrimaryCLS As clsTitles 

Trong Form, Event MoveComplete sẽ làm hiển thị vị trí tuyệt đối (Absolute Position) của record bằng code dưới đây:

Private Sub PrimaryCLS_MoveComplete() 
   'This will display the current record position for this recordset
   lblStatus.Caption = "Record: " & CStr(PrimaryCLS.AbsolutePosition) 
End Sub 

Khi user clicks Refresh, các textboxes sẽ được hiển thị lại với chi tiết mới nhất của record từ trong recordset, nhỡ khi có ai khác đã sửa đổi record. Method Requery của clsTitles lại gọi method Requery của Recordset như sau:

Private Sub cmdRefresh_Click() 
   'This is only needed for multi user applications
   On Error GoTo RefreshErr 
   ' fetch the latest copy of Recordset
   PrimaryCLS.Requery 
   Exit Sub 
RefreshErr: 
   MsgBox Err.Description 
End Sub 

'In Class clsTitles
Public Sub Requery() 
   ' Fetch latest copy of record
   adoPrimaryRS.Requery 
   DataMemberChanged "Primary" 
End Sub 

Bạn có thể tải về chương trình nầy từ đây ADOClass.zip.

 

~ bởi duriangroup on Tháng Tám 21, 2007.

 
%d bloggers like this: