Cần biết khi lắp máy tính

Khi tự ráp máy vi tính PC, bạn sẽ được lợi nhiều hơn là mua máy ráp sẵn. Nhưng nó cũng đòi hỏi bạn nhiều thứ trong đó quan trọng nhất là lòng ham mê tìm hiểu vì nếu thiếu cá tính nầy bạn sẽ mau bỏ cuộc khi gặp trục trăc (là chuyện thường xẩy ra).Bài viết nầy có mục đích khuyến khích các bạn trẻ tự ráp máy hay tự nâng cấp máy bởi vì chỉ có qua việc làm nầy các bạn mới học hỏi được nhiều về cấu trúc máy, cách hoạt động cũng như cách xử lý khi có hư hỏng.

Tuy nhiên chúng tôi xin khuyên bạn nào không ham thích về kỹ thuật là đừng nên tự ráp máy vì trong quá trình RÁP máy có vô số vấn đề phức tạp xẩy ra chớ không đơn giản hễ ráp là chạy đâu.

ƯU ĐIỂM:

Tiết kiệm cho bạn rất nhiều tiền, theo kinh nghiệm của chúng tôi là khoảng 10% trị giá máy.

Linh kiện do bạn tự chọn lựa nên hợp với tình hình kinh tế của bạn và chất lượng món hàng cũng do bạn quyết định. Ngoài ra do mua lẻ nên bạn sẽ có đầy đủ các sách hướng dẫn, đĩa driver và bao bì cho từng linh kiện.

Các thao tác lắp ráp sẽ được tiến hành kỹ lưỡng hơn ngoài tiệm và cách sắp xếp trong máy cũng hợp ý hơn.

Bạn hiểu rõ về máy của bạn hơn và mạnh dạn sửa chữa máy khi có trục trặc nhỏ như: lỏng chân Card, lỏng chấu cắm, các mối nối tiếp xúc không tốt…

Sau khi ráp thử một lần, bạn sẽ có hứng thú giúp đỡ bạn bè và tự nâng cao trình độ về phần cứng máy tính.

KHUYẾT ĐIỂM:

Tốn nhiều công sức đi lùng mua linh kiện cho vừa ý, thời gian ráp máy nếu chưa có kinh nghiệm có thể kéo dài cả ngày. Ðó là chưa kể linh kiện không dùng được phải đem đổi.

Ðòi hỏi phải có kiến thức căn bản về phần cứng, phải có tính kỹ lưỡng, kiên nhẩn khi lắp ráp.

Phải biết cách xử lý những va chạm giữa các linh kiện với nhau. Thí dụ: Ngắt, địa chỉ, DMA…

Sau đây là phần trình bày theo thứ tự thực tế để bạn dễ tiếp thu.

LẮP RÁP CÁC PHẦN CƠ BẢN ĐỂ TEST MÁY:

KIỂM TRA BỘ NGUỒN:

Bạn nối dây điện nguồn (dây cáp bự màu đen có 4 dây con) đến công tắc Power, chú ý là có 2 loại công tắc là nhấn và bật lên xuống, bạn phải xem sơ đồ hướng dẫn trên nhãn bộ nguồn để nối cho đúng vì cách xếp đặt chân 2 loại khác nhau. Nối dây cấp điện 5VDC cho mặt hiện số (xem cách nối trong tờ giấy hướng dẫn kèm theo thùng máy). Sau đó đóng công tắc nguồn, quạt của bộ nguồn phải quay và bảng hiện số phải sáng (bạn không điều khiển được do chưa nối dây vào mainboard) nếu bộ nguồn tốt. Bộ nguồn không được phát tiếng động lạ như: hú, rít, lạch xạch…

RÁP Ổ ĐĨA:

RÁP các ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng, ổ đĩa CD-ROM vào thùng máy, gắn các dây cáp tín hiệu cho chúng nhưng khoan gắn cáp cấp điện.

RÁP MAINBOARD:

Ráp mainboard lên miếng sắt đỡ bên hông thùng máy. Gắn đầy đủ các chốt đệm bằng nhựa. Cố gắng bắt đủ 2 con ốc cố định cho mainboard, tốt nhất là nên lót thêm miếng lót cách điện cho phần ốc đế và ốc xiết để tránh chạm điện khi mainboard xê dịch.

Căn cứ vào sách hướng dẫn, bạn kiểm tra và set lại các Jumper cho đúng với loại CPU của bạn. Bạn cần quan tâm tới Jumper Volt vì nếu set sai CPU sẽ nổ trong 1 thời gian ngắn (thường điện thế của Pentium là 3V).

RÁP RAM:

Mainboard 486 cho phép bạn sử dụng từ 1 cây SIMM đến 4 cây (có 4 bank). Mainboard Pentium bắt buộc phải gắn 1 cặp 2 cây SIMM cho 1 Bank (có 2 bank). Bạn xác định chiều gắn SIMM bằng cách đặt đầu chân khuyết cạnh của SIMM vào đầu có gờ chặn của bank. Bạn không nên trộn lẫn vừa EDORAM vừa DRAM, chỉ nên xài 1 loại cho “bảo đảm”.

RÁP CÁC DÂY CẮM CỦA THÙNG MÁY:

Bạn nên ráp các dây cắm của thùng máy lên mainboard trước khi ráp Card để tránh vướng và khi ráp card bạn dễ chọn Slot hơn. Ðọc kỹ sách hướng dẫn của mainboard để cắm các đầu đây cho đúng. Ðối với đèn báo khi không lên bạn chỉ cần xoay ngược đầu cắm lại, không sợ hư hỏng. Ðối với nút Turbo khi nút có tác dùng ngược, bạn cũng làm như trên. Dây Reset và dây Loa không phân biệt đầu, cắm sao cũng được.

Chú ý là có mainboard không có đầu nối cho nút Turbo (Turbo vĩnh viễn), có khi bạn phải tách dây đèn Turbo từ bảng đèn cắm trực tiếp vào đầu cấm Turbo Led trên mainboard.

RÁP CARD:

Bình thường máy cấu hình chuẩn chỉ có card màn hình PCI. Bạn cắm card vào slot nào trong 4 slot PCI cũng được. Các card bổ sung như: Sound, Modem, Netware, MPEG, thường là cắm vào 4 Slot ISA. Trước khi cắm bạn chú ý đặt card vào Slot để xem thử có khớp không, nếu không phải xê dịch mainboard hay miếng sắt đỡ cho khớp rồi mới đè cho phần chân ăn sâu vào Slot. Nên đè luân phiên từ đầu một cho dễ xuống.

Chúng tôi khuyên bạn nên ráp chỉ một mình card màn hình cho dù bạn có nhiều card . Sau khi máy đã khởi động tốt bạn mới RÁP các card khác tiếp tục.

RÁP CPU:

Gắn CPU vào quạt trước khi gắn CPU vào mainboard, chú ý cắm cạnh khuyết của CPU vào đúng cạnh khuyết của ổ cắm (cạnh khuyết là cạnh thiếu 1 chân hay lỗ ở góc vuông). Khi cắm, bạn so khớp chân với lỗ rồi thả nhẹ nhàng CPU xuống. Khi CPU không tự xuống có thể do cần gạt chưa gạt lên hết cỡ hay chân CPU bị cong cần phải nắn lại. Nếu ổ cắm còn mới, bạn chỉ cần đè nhẹ tay là xuống. Tuyệt đối không được dùng sức đè CPU xuống khi nó không tự xuống được, bạn có thể làm gẫy chân CPU (coi như bỏ !).

RÁP CÁP TÍN HIỆU CỦA Ổ ĐĨA:

Bạn chỉ cần nối cáp cho ổ đĩa mềm khởi động trước để test máy. Bạn cắm cáp tín hiệu vào đầu nối FDD trên mainboard hay trên Card I/O rời. Phải chú ý đấu cho đúng đầu dây số 1 của cáp vào đúng chân số 1 của đầu nối.

RÁP DÂY CÁP CẤP ĐIỆN CHO Ổ ĐĨA:

Ðầu tiên chỉ nên ráp dây cáp cấp điện cho ổ đĩa mềm khởi động để Test máy. Sau khi máy chạy tốt mới nối cho các ổ đĩa còn lại.

RÁP CÁP CẤP ĐIỆN CHO MAINBOARD:

Khi nối cáp cấp điện cho mainboard, bạn chú ý là 4 dây đen phải nằm sát nhau và nằm giữa. RÁP ngược cáp có thể làm hư mainboard hay chết các con chip.

LINH TINH:

Tóm gọn các dây nhợ lại thành từng bó, cột và cố định vào chỗ nào gọn. Tránh để dây chạm vào quạt giải nhiệt của CPU, tạo khoảng trống tối đa cho không khí lưu thông dễ dàng trong thùng máy.

KHỞI ĐỘNG LẦN ĐẦU TIÊN:

Ðây là thời điểm quan trọng nhất trong quá trình ráp máy. Bạn kiểm tra lần cuối cùng rồi bật máy. Nếu mọi việc đều ổn, trong vòng 10 giây, màn hình phải lên và Bios tiến hành kiểm tra máy. Nếu trong 10 giây , màn hình không lên là có chuyện gay go, bạn phải lập tức tắt máy và kiểm tra lại các thành phần sau:

Jumper: Kiểm tra lại các jumper tốc độ mainboard, tốc độ CPU, điện thế CPU có đúng chưa?

DRAM: Coi chừng Ram chưa cắm khớp vào đế, cắm lại Ram thật cẩn thận. Ðây là lỗi thường xẩy ra nhất.

CPU: Kiểm tra lại chiều cắm của CPU, kiểm tra xem có chân nào cong do cố nhấn xuống đế không? Lỗi nầy hiếm nhưng vẫn xẩy ra cho những người ít kinh nghiệm. Khi nắn lại chân phải nhẹ nhàng và dứt khoát, tránh bẻ đi bẻ lại nhiều lần sẽ làm gẩy chân.

Card màn hình: Kiểm tra xem chân card màn hình xuống có hết không?, hay thử đổi qua Slot khác xem sau. Trường hợp card màn hình bị hư hay đụng mainboard rất hiếm.

Nếu tất cả đều đúng nhưng máy vẫn không khởi động được, bạn cần liên hệ với nơi bán mainboard vì xác xuất lỗi do mainboard là cao nhất trong các thành phần còn lại. Có trường hợp mainboard bị chạm do 2 con ốc đế không được lót cách điện. Có trường hợp cần phải set các jumper khác với sách hướng dẫn (chỉ có người bán mới biết). Có khi bạn phải ôm cả thùng máy ra chỗ bán mainboard nhờ kiểm tra dùm.

Nếu máy khởi động tốt là bạn đỡ mệt và tiến hành RÁP hoàn chỉnh máy. Chú ý trong giai đoạn nầy bạn nên sử dụng xác lập mặc nhiên (default) trong Bios, khi nào máy hoàn chỉnh và chạy ổn định mới set Bios lại sau.

RÁP BỔ SUNG ĐỂ HOÀN CHỈNH MÁY:

Nối cáp tín hiệu và cáp điện cho các ổ đĩa còn lại.

Nối các cổng COM và LPT. Chú ý là phải sử dụng bộ dây được cung cấp kèm theo Mainboard, dùng bộ dây khác có thể không được do thiết kế khác nhau. Nối Mouse và máy in.

Ráp các Card còn lại: Nguyên tắc chung khi ráp các Card bổ sung là chỉ được RÁP từng Card một, khởi động máy, cài đặt các driver điều khiển. Nếu Card hoạt động tốt mới ráp tiếp Card khác. Cách làm nầy giúp bạn xác định chính xác Card nào trục trăc trong quá trình RÁP, không phải đoán mò.

Trước khi ráp Card bổ sung cần cẩn thận kiểm tra các jumper so với sách hướng dẫn để tránh bị đụng ngắt, điạ chỉ, DMA…

KHỞI ĐỘNG LẠI VÀ KIỂM TRA KỸ LƯỠNG:

Sau khi ráp hoàn chỉnh, các bạn cho khởi động máy. Tiến hành kiểm tra các thiết bị ngoại vi như sau:

KIỂM TRA Ổ ĐĨA MỀM:

Cách kiểm tra triệt để nhất là Format chừng 2 hay 3 đĩa mềm còn mới và bạn biết chắc là tốt sau đó ghi thử lên đĩa và đem qua máy khác đọc. Có trường hợp ổ đĩa mềm đọc, ghi bình thường nhưng không format được hay khi format báo đĩa hư nhiều. Có trường hợp đĩa ghi bằng máy mới khi đem qua máy khác không đọc được hay ổ đĩa mới không đọc được đĩa máy khác – Ðây là do đầu từ bị lệch so với các ổ đĩa khác. Có trường hợp ổ đĩa hoạt động bình thường nhưng không thể khởi động máy được, thay ổ đĩa khác vẫn như vậy – Ðây là do Mainboard. Có trường hợp ổ đĩa đọc ghi được một thời gian rồi bắt đầu phát tiếng kêu lớn và không đọc được đĩa nữa hay lúc được lúc không – ổ đĩa hư cần thay ổ khác, đừng cố xài sẽ hư đĩa mềm.

KIỂM TRA CÁC THÀNH PHẦN KHÁC:

Dùng chương trình PCCHECK chứa trên đĩa mềm để kiểm tra toàn bộ máy, kể cả ổ đĩa CDROM.

LINH TINH:

Tiến hành Fdisk và format đĩa cứng.

CÀI ĐẶT HỆ ĐIỀU HÀNH:

Cài đặt hệ điều hành vào ổ đĩa cứng để chấm dứt tình trạng khởi động bằng ổ đĩa mềm. Theo kinh nghiệm của chúng tôi hệ điều hành dùng để xác định chất lượng máy tốt nhất là Windows 95 và Windows NT. Máy nào cài được coi như đã có xác nhận chất lượng cao. Trên thực tế, các máy RÁP linh kiện rẻ tiền và không chuẩn sẽ khó lòng cài Windows 95 chứ nói gì đến Windows NT. Có nhiều chỗ bán máy “dỏm” không dám cài Windows 95 khi có yêu cầu của khách vì họ sợ không cài được. Bạn chỉ cần cài thử để kiểm tra chất lượng máy rồi xoá chứ không cần sử dụng luôn, đây cũng là dịp cho bạn thử hệ điều hành mới ngoài Dos và Windows 3.xx.

Sau khi cài hệ điều hành xong, bạn mới có thể tiến hành việc tăng tốc máy và set lại Bios theo ý bạn.

Theo VNULIB

Những điều cần lưu ý khi chọn mua ổ đĩa CD-RW

Những điều cần lưu ý khi chọn mua ổ đĩa CD-RW

TTO – Khi nhu cầu lưu trữ dữ liệu ngày càng lớn thì ổ đĩa CD-RW thật sự cần thiết. Khả năng ghi lại của ổ đĩa CD-RW lên đến 1.000 lần và với giá mức từ $40 đến $130 việc sở hữu một ổ đĩa CD-RW sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên, trước khi mua bạn nên tìm hiểu một số tính năng sau:

1. Một số tính năng cần biết của ổ CD-RW

CD-RW Write Speed (Tốc độ ghi của ổ CD-RW): Đĩa CD-RW sử dụng tỉ lệ X để biểu thị tốc độ ghi và đọc. Trong đó 1X tương đương với 150Kb/giây. Tốc độ cao nhất phổ biến trên thị trường của ổ đĩa CD-RW có được là 32X. Ổ đĩa CD-RW thường đắt hơn ổ đĩa CD-R. Tuy nhiên CD-RW thuận lợi hơn trong việc backup dữ liệu và bạn có thể dùng lại đĩa đã ghi như là một đĩa mềm.

– CD-ROM Read Speed (Tốc độ đọc của ổ CD-ROM): Tốc độ đọc cao nhất hiện có ở các ổ đĩa CD-ROM trên thị trường là 52X, không có sự đột biến mạnh so với các các loại ổ đĩa trước đó. Hơn nữa trong một vài trường hợp thử nghiệm cho thấy thì khi ghi đĩa tốc độ sẽ đạt được sự ổn định, còn trong khi đọc thì thường có sự dao động lớn về tốc độ đọc. Ngoài ra khi ghi đĩa với tốc độ nhanh, có thể gây ra một số lỗi nghiêm trọng cho đĩa.

– Buffer size (Kích cỡ bộ đệm): Ổ đĩa CD-RW có kích cỡ bộ đệm tối thiểu là 2MB. Mục đích của bộ nhớ đệm là đảm bảo cho dòng dữ liệu ghi đến đĩa được xuyên suốt, không bị ngắt. Trước đó, khi một số phương án để bảo vệ sự thiếu hụt bộ đệm như Burn-Proof và Smart-Burn chưa trở nên phổ biến thì ổ đĩa CD-RW cần phải có dung lượng bộ đệm lớn hơn để tránh sự thiếu hụt này (nguyên nhân làm cho tiến trình ghi đĩa bị hỏng).

Hiện nay, dung lượng bộ nhớ đệm đã lên đến 4MB, 8MB, tuy nhiên khi các phương án trên đã trở nên phổ biến thì những ổ đĩa với bộ nhớ đệm lớn sẽ đảm bảo cho sự vận hành của đĩa được tốt hơn.

– Interface (Giao diện): Những ổ đĩa CD-RW có giao diện IDE là tuơng đối rẻ và dễ dàng để cài đặt nếu bạn không ngại mở thùng máy CPU. Ngoài ra cũng có một số ổ đĩa CD-RW sử dụng giao diện FireWire (IEEE 1394) hoặc USB 2.0. Tuy nhiên, ổ đĩa với giao diện FireWire thì hiếm hơn và giá cao hơn ổ đĩa với giao diện USB 2.0 khoảng 20 đến 30USD. Nếu bạn kết nối ổ đĩa CD-RW giao diện USB 2.0 qua USB 1.1 thì bạn chỉ có thể đạt được tốc độ ghi tối đa là 4X.

Hầu hết các ổ đĩa CD-RW gắn bên ngoài đều hỗ trợ nhiều giao diện như FireWire, USB 2.0 nhưng giá sẽ cao hơn.

– Software (Phần mềm): Tất cả những ổ đĩa đều đi kèm với những phần mềm ghi đĩa chuyên dụng như Ahead’s Nero, Roxio’s Easy CD & DVD Creator. Ngoài ra còn có một số chương trình khác như TDK’s Audio MixMaster phục vụ cho việc copy nhạc Mp3, chỉnh sửa ảnh.

– Công nghệ M.t Rainier: Những ổ đĩa CD-RW với công nghệ M.t Rainier có thể ghi dữ liệu trực tiếp lên đĩa mà không cần phải thông qua phần mềm thứ ba. Nó cho phép định đạng đĩa liên tục và việc quản lý những khuyết điểm của đĩa được tốt hơn nhằm hạn chế những lỗi xảy ra.

Cho đến bây giờ chỉ có hệ điều hành Linux là hỗ trợ M.t Rainier. Microsoft cũng sẽ tích hợp công nghệ này trong phiên bản Windows kế tiếp, hệ điều hành Longhorn. Ngoài ra, bạn nên lưu ý là ổ đĩa được ghi bằng công nghệ M.t Rainier không có tính tương thích lùi và có thể không đọc được trên các hệ điều hành cũ. Do đó, bạn vẫn sẽ sử dụng phần mềm thứ ba để đọc như Roxio DirectCD.

2. Một số lời khuyên khi chọn mua CD-RW

– Nếu sử dụng cho máy tính để bàn, bạn nên chọn ổ đĩa có giao diện IDE vì giao diện này dễ dàng cài đặt, giá rẻ hơn các giao diện khác.

– Tìm một ổ đĩa có dung lượng bộ đệm khoảng 4MB hoặc cao hơn. Dung lượng bộ đệm lớn sẽ giúp giảm đi việc tràn bộ đệm và cải thiện hoạt động của đĩa.

– Nếu muốn chọn những ỗ đĩa cầm tay cho Notebook thì cần lưu ý đến giao diện. Ổ đĩa có giao diện FireWire có tốc độ nhanh nhưng cần phải có thêm cổng FireWire hay Card giao tiếp FireWire. Ổ đĩa giao diện USB2.0 thì rẻ hơn nhưng cần lưu ý máy tính của bạn có USB 2.0 để tận dụng được tốc độ của nó.

– Yêu cầu nơi bán cung cấp thêm những phần mềm ghi đĩa đĩa kèm.

– Nếu bạn sử dụng hệ điều hành Linux hoặc có kế hoạch cập nhật lên hệ điều hành Longhorn thì nên tìm kiếm những ổ đĩa có hỗ trợ công nghệ M.t Rainier để có thể ghi đĩa trực tiếp mà không cần đến phần mềm thứ ba.

Hướng dẫn lắp mạng không dây

  • Lập mạng không dây trong gia đình với 4 bước cơ bản

(Post 13/10/2006) Trong gia đình bạn, bạn có một số máy tính nhưng vẫn chưa được nối mạng. Bạn muốn chia sẻ kết nối tập tin, chia sẻ Internet, máy in… Nhưng bạn không biết phải bắt đầu từ đâu? Bạn nên chọn giải pháp mạng nào vừa đơn giản, hiệu quả mà lại không phải bận tâm tới một “đống” các loại dây?

Mô hình mạng không dây cho gia đình

Bạn có thể thiết kế cho mình mạng không dây đơn giản, để chia sẻ truy cập Internet, tập tin , máy in… Bạn có thể lướt Net trong khi bạn đang trong sân, hay ngoài vườn… Để thiết lập một mạng máy tính không dây khá đơn giản, bạn chỉ cần thực hiện qua 4 bước sau:

  • Lựa chọn thiết bị:
  • Kết nối các router không dây
  • Thiết lập cấu hình router không dây
  • kết nối các máy tính

Đối với người sử dụng Windows XP, bản Windows XP SP2 cho phép thiết lập mạng dễ dàng hơn, không những thế bản SP2 còn giúp bạn chống lại hacker, sâu, và những kẻ xâm nhập mạng không dây.

Mô hình mạng không dây cho gia đình

Bước 1: Lựa chọn thiết bị không dây

Trước hết, bạn cần phải có các thiết bị phát sóng không dây. Nếu bạn đang tìm kiếm các sản phẩm trong các cửa hàng, hoặc trên Internet, bạn cần chú ý tới các thiết bị hỗ trợ 3 công nghệ không dây phổ biến hiện nay: 802.11a, 802.11b, 802.11g. Tuy nhiên, chuẩn 802.11g được khuyến khích sử dụng bởi nó cho phép đem lại hiệu năng cao nhất và tương thích với hầu hết các sản phẩm khác.

Các thiết bị cần mua gồm:

  • Kết nối Internet băng thông rộng
  • Router không dây
  • Các máy tính đã tích hợp các thiết bị kết nối không dây, hoặc bạn phải mua thêm các card mạng không dây.

Router không dây

Router chuyển đổi các tín hiệu đến từ kết nối Internet thành các kết nối không dây broadcast, tương tự như trạm phát sóng của thiết bị điện thoại không dây. Bạn cũng chú ý là phải mua router không dây, chứ không phải là các điểm truy cập không dây ( wireless access point).

Các card mạng không dây

Card mạng không dây kết nối máy tính của bạn tới các router không dây. Nếu bạn có laptop mới, rất có thể máy tính của bạn đã có sẵn card mạng không dây tích hợp. Trong trường hợp khác, bạn cần phải mua card mạng không dây. Nếu bạn cần mua card mạng không dây cho máy để bàn, bạn nên mua loại USB. Nếu bạn đang sử dụng máy tính xách tay, bạn hãy mua loại PC card.

Chú ý: Để tạo kết nối dễ dàng, bạn cần chọn card mạng không dây cùng với hãng sản xuất router không dây. Ví dụ: Ban sẽ thấy router của Linksys có giá tốt, bạn sẽ chọn luôn card mạng của Linksys. Để mua sắm được dễ dàng hơn bạn nên mua cả bộ từ D-Link, Netgear, Linksys, Microsoft,..Nếu bạn sử dụng máy tính để bàn thì bạn phải chắc chắn là mình đã có sẵn cổng USB. Nếu không có cổng USB thì bạn phải mua thêm card cắm thêm cổng USB.

Các cổng của Router không dây

Bước 2. Kết nối tới router không dây

Bạn nên tạm ngắt kết nối vào Internet. Trước hết, cần phải xác định bạn đang sử dụng modem cáp hoặc DSL modem, rồi rút phích cắm điện ra (hoặc tắt nguồn điện).

Sau đó, bạn kết nối router không dây của bạn vào modem. Modem của bạn phải chắc chắn sẽ làm việc tốt (vẫn truy cập được vào Internet). Sau đó, khi mọi thứ đã hoàn thành, máy tính của bạn sẽ kết nối không dây tới router, và router sẽ kết nối Internet qua modem.

Sau đây là bước kết nối router tới modem:

Chú ý: Các hướng dẫn bên dưới được sử dụng cho router Linksys. Nếu bạn sử dụng loại modem khác thì bạn hãy đọc kĩ tài liệu hướng dẫn đi kèm với thiết bị của bạn.

Các cổng của Router không dây

  • Nếu bạn đang có máy tính kết nối trực tiếp vào modem: bạn cần phải bỏ đầu cắm cáp mạng đằng sau máy tính của bạn, và cắm nó vào cổng có nhãn là Internet, WAN, hoặc WLAN ở đằng sau router không dây của bạn.
  • Nếu bạn không có máy tính đang kết nối vào internet: Hãy cắm một đầu cắm cáp mạng vào trong modem, và đầu cáp mạng còn lại thì kết nối vào cổng Internet, WAN, hoặc WLAN ở trong router không dây.
  • Nếu bạn có máy tính đang được kết nối tới router: Bạn hãy gỡ bỏ đầu kết nối mạng ở cổng Internet, WAN, hoặc WLAN trong router cũ, và cắm đầu cắm này vào cổng Internet, WAN, hoặc WLAN của router mới. Và sau đó, đưa tất cả các đầu cắm cáp mạng từ các cổng của router cũ sang cổng kết nối của router mới. Bạn sẽ không cần router cũ nữa bởi router mới sẽ thay thế công việc.

Đèn tín hiệu cổng Internet

Tiếp đó, sau khi đã kết nối vật lý xong, bạn hãy bật modem cáp hoặc DSL modem của bạn. Đợi vài phút để thiết bị có thời gian kết nối Internet, và sau đó bạn hãy mở router không dây lên. Một vài phút sau đèn ở phần Internet, WAN, or WLAN ở trong router không dây sẽ sáng, điều đó chứng tỏ bạn đã kết nối thành công.

Bước 3: Cấu hình router không dây

Hãy sử dụng một cáp mạng đi kèm với router không dây của bạn, bạn cần tạm kết nối máy tính của mình tới một trong những cổng còn trống của router không dây (bất cứ cổng nào mà không có nhãn Internet, WAN, hoặc WLAN). Bạn hãy bật máy của mình, PC của bạn sẽ tự động kết nối vào router.

Bạn hãy mở IE, và gõ địa chỉ IP để cấu hình router.Có thể bạn sẽ phải gõ mật khẩu. Tên mật khẩu và địa chỉ sẽ rất khác nhau, phụ thuộc vào router mà bạn mua, bạn cần xem hướng dẫn trong tài liệu đi kèm. Bảng dưới đây là một cấu hình các địa chỉ, tên mật khẩu thường được sử dụng mặc định của hãng sản xuất.

Router Address Username Password
3Com http://192.168.1.1 admin admin
Linksys http://192.168.1.1 admin admin
Netgear http://192.168.0.1 admin password

IE sẽ hiển thị trang cấu hình router của bạn. Hầu hết các cấu hình mặc định đều tốt, tuy nhiên bạn cần chú ý:

  • Tên mạng không dây của bạn, thường gọi là SSID: Cái tên này xác định mạng của bạn. Do đó, bạn cần phải đặt tên khác và không giống như cái tên mà hàng xóm của bạn đang sử dụng.
  • Mã hóa không dây WEP, và bảo vệ truy cập không dây (WPA): sẽ giúp mạng không dây của bạn bảo mật hơn. Hầu hết các router, bạn cần cung cấp vì kí tự để router của bạn tự sinh các khóa. Bạn hãy gõ các kí tự này duy nhất đừng lặp lại ( bạn cũng không cần phải nhớ các kí tự này). Sau đó bạn hãy ghi lại các khóa mà router tự sinh.
  • Mật khẩu quản trị, chìa khóa cấu hình mạng không dây: Cũng giống như các mật khẩu khác, mật khẩu cho router không thể là một từ nào đó trong từ điển, nó cần phải là sự kết hợp các kí tự, số, biểu tượng. nhưng cũng rất quan trọng là bạn phải nhớ chúng, bởi bạn sẽ phải gõ mật khẩu khi đăng nhập để cấu hình lại router.

Các bước cấu hình có thể rất khác giữa các router, nhưng bao giờ trong mỗi lần thiết lập cấu hình cũng là có các mục như: Save Settings, Apply,OK để lưu lại các thay đổi của bạn.Bây giờ, bạn có thể tắt kết nối mạng từ máy bạn đang dùng để cấu hình.

Bước 4: Kết nối các máy tính

Nếu máy tính của bạn không tích hợp card mạng không dây, bạn hãy cắm thiết bị kết nối mạng không dây vào cổng USB, và hãy đưa anten lên vị trí cao nhất (đặt lên đỉnh của case của máy tính để bàn), hoặc bạn cắm card PC không dây vào khe cắm (máy tính xách tay). Windows XP sẽ tự động nhận các nhận card mạng mới, và có thể sẽ yêu cầu bạn cài đặt phần mềm. Bạn hãy đưa đĩa cài đặt trình điều khiển (driver) cho card mạng khi có yêu cầu. Màn hình hướng dẫn cài đặt sẽ giúp bạn cài đặt trình điều khiển trong vòng vài phút.

Chú ý: Các bước dưới đây cũng sử dụng Windows XP SP2. Nếu bạn sử dụng Windows XP mà chưa có SP2 thì bạn hãy cài đặt bản SP 2 tại http://www.microsoft.com/windowsxp/sp2/default.mspx.Windows XP sẽ hiển thị một hộp thoại thông báo đã nhận được mạng không dây.

Để kết nối vào mạng không dây bạn cần làm theo các bước:

  • Nhấn chuột phải vào biểu tượng mạng không dây ở góc dưới bên phải màn hình, và nhấn chuột vào View Available Wireless Networks. Nếu bạn gặp rắc rối, hãy tham khảo tài liệu đi kèm card mạng. Đừng ngại liên hệ với nhà cung cấp về kĩ thuật nếu bạn gặp khó khăn.
  • Cửa sổ kết nối mạng không dây sẽ xuất hiện và bạn sẽ thấy mạng không dây sẽ xuất hiện với tên mà bạn chọn. Nếu bạn không thấy mạng, hãy nhấn Refresh network list vào ở trên cùng bên trái. Bạn hãy nhấn vào mạng của bạn, và nhấn vào nút Connect.
  • Windows XP sẽ đưa ra lời nhắc bạn nhập khóa. Bạn hãy gõ khóa đã được mã hóa mà bạn đã viết lúc trước trong cả hai trường Network keyConfirm network key, sau đó nhấn Connect.

Chú ý: cửa sổ Wireless Network Connection vẫn tiếp tục hiện ra Acquiring Network Address, có thể là bạn đã gõ nhầm khóa mã hóa.

Windows XP sẽ hiển thị quá trình kết nối vào mạng. Sau khi bạn đã kết vào mạng, bạn có thể đóng cửa sổ Wireless Network Connection.

Chúc mừng bạn, thiết lập mạng không dây đã thành công.

(Sưu tầm)

Kinh nghiệm chọn mua linh kiện vi tính củ

Hiện nay, giá cả linh kiện vi tính đã hạ rất nhiều so với các năm trước. Với số tiền hạn chế 4-5 triệu đồng, bạn cũng có thể “tậu” cho mình một dàn máy với linh kiện mới 100% bảo hành từ 1-3 năm. Dĩ nhiên, nếu bạn có ít hơn số tiền trên, hoặc máy bạn đã mua từ lâu và muốn “nâng cấp” vài món nhưng điều kiện kinh tế không cho phép thì cân nhắc việc mua mới hay chọn mua hàng “xài rồi” là điều nên cân nhắc.

Bài viết dưới đây tôi xin nêu vài kinh nghiệm nhỏ để bạn có thể chọn mua những linh kiện vi tính “đã qua sử dụng” nhưng vẫn có thể còn sử dụng tốt.

1. Monitor – màn hình:

Do giá màn hình mới và màn hình hàng sec chênh lệt quá nhiều. Trung bình loại 15″ giá 80$ thì hàng sec chỉ khỏang 400.000đ tức 25$. Còn loại 17″ giá 110$ và hàng sec chỉ khoảng 800.000đ tức 50$. Nên nhều bạn đã chọn mua thùng CPU mới 100% và chọn mua 1 monitor hàng sec để tiết kiệm được ~ 1.000.000đ.

Đã có rất nhiều bài viết về việc lựa chọn monitor trên các báo, web, forum… nên tôi chỉ nếu vài lưu ý nhỏ.

Các bài viết đều khuyên nên chọn nhãn hiệu uy tín, date cao nhưng 2 điểm này thì 1 người thiếu kinh nghiệm sẽ bị lừa bằng cách sơn lại, kéo lụa lại tên hãng sản xuất hoặc tinh vi hơn in cả nhãn xuất xưởng dán phía sau. Nhiều khách hàng đã chọn mua monitor hiệu Compaq, IBM… nhưng thật ra của hãng gì thì … có trời mới biết.

Cho nên, nhìn nước sơn và date thật giả thì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính. Còn về chất lượng, cũng như các bài viết đã nêu trên, nên chọn monitor có độ phân giải 1024×768 (để ý khi chuyển từ độ phân giải 600×800 sang 1024×768 thì khung hình không bị giật và thiếu sáng). Còn tốc độ là tươi (refresh rate) tối thiểu phải đạt 85 Hertz. Một số monitor đời quá củ, khi chỉnh refresh rate lên 85 Hertz sẽ không chịu nổi sẽ tối đen hoặc văng hình, rít.

2. HDD – Ổ đĩa cứng:

Là loại linh kiện nhạy cảm và dể hư nhất của máy vi tính. Nên việc chọn mua HDD tương đối khó chịu nhất. Theo tôi, nếu có điều kiện nên mua 1 HDD mới và bảo hành lâu vẫn hơn. Giá HDD hàng sec loại 10Gb khoảng 200.000đ, loại 20gb khoảng 300.000đ, loại 40gb khoảng 400.000đ. So với HDD mới 40GB giá 46.5$ còn 80gb là 48.5$. Nên mua HDD hàng sec ở tiệm uy tính hoặc quen biết. Thường thì linh kiện củ được bảo hành 1 tháng (còn dân làm ăn chụp giật như khu chợ Nhật Tảo thì chỉ bao test 2 ngày hay 1 tuần mà thôi). Do vậy khi mua, bạn hãy lựa nơi bán có bảo hành 1 tháng và nên hỏi trước “có bị Bad hay không?” <– Nếu chổ uy tính thì Bad sẽ được đổi ngay ổ khác, nhưng dường như không có chuyện này xảy ra vì trước khi bán người bán đã test kỹ hàng để giữ uy tính mà. Nên chọn mua hiệu quantum, maxtor hoặc seagate đừng chọn các lọai nhãn hiệu lạ như fujisu, westerndigital…

Do chỉ bảo hành có 1 tháng nên sau khi mua, bạn cần test thật kỹ. 1 HDD còn tốt thì không kêu quá to. Tốt nhất nên dùng fdisk xóa hết các partion sau đó tạo lại và format lại từng partion. Nếu không quen dùng fdisk và format thì bạn có thể dùng Disk Manager để xóa và tạo lại từng partion nhưng khi dùng format của DiskManager thì không chọn chế độ FastFormat. Hãy để DiskManager format “thật kỹ” và đây là cách mà tôi chọn để test các HDD hàng sec mà mình mua. Thêm nữa, nếu muốn chắc bạn nên dùng trình cài đặt Windows XP để cài windows vào máy (vì một số lỗi của HDD sẽ bị bỏ qua khi ta dùng tiện ích Norton Ghost để bung Ghost WinXP mọi cấu hình) <– Dễ thấy một số HDD bị lỗi không thể cài Windows nhưng dùng Norton Ghost bung ghost thì vẫn chạy tốt.

3. Main, CPU & RAM:

Main dòng P4 hiện nay thì trường linh kiện cũ chưa có nhiều. Thêm vào đó, main mới giá bình dân bảo hành 3 năm chỉ có 45$ còn bảo hành 1 năm thì giá 35$. Nếu có main cũ bảo hành 1 tháng thì giá sẽ vào khoảng 350.000đ đến 450.000đ. Nên chọn mua 1 main mới bảo hành từ 1 đến 3 năm là lựa chọn tốt nhất.

Về CPU dòng P4: trên thị trường hàng cũ cũng rất ít, P4 1.5ghz giá khoảng 35$ bảo hành 1 tháng. Celeron 1.8ghz giá 25$.

DDRAM dành cho main P4 này thì càng hiếm. DDRAM 256MB giá khoảng 20$.

Còn dòng P3 thì có nhiều hàng hơn. Main chip intel 815 support CPU tulatin giá 25$ bảo hành 1 tháng. CPU P3 1.0ghz giá 22$. SDRAM 128MB giá chỉ 140.000đ đến 10$

Về main, lưu ý lựa main có các tụ lọc đồng bộ (chưa bị thay) và không bì phù. Các đường mạch thì còn đẹp và không bị ten hoặc có dấu hiệu rỉ.

Về CPU, nếu là P3 thì chỉ nên mua loại tulatin (1ghz trở lên) các loại chip dưới 1 ghz rất dễ bị mẻ lưng và chết chip.

Về RAM lưu ý chọn loại không kén main (giá đắc hơn chút đĩnh) và các chân RAM phải còn sáng mới, không có dấu hiệu ten, rỉ.

Cách test main, CPU và RAM: tốt nhất nên xử dụng trình setup windows XP (không nên bung ghost). Nếu quá trình setup thành công mà không bị báo lỗi “màn hình xanh chết chóc” thì trên 90% làm main,CPU và RAM tốt. Nếu muốn test kỹ thêm thì cài các chương trình dạng video convert hoặc video edit rồi cho convert 1 vài đĩa VCD hoặc edit 1 vài đĩa VCD. Các dạng chương trình này rất ngốn tài nguyên và khai thác triệt để Main, CPU và RAM. Nếu mọi chuyện vẫn OK thì hơn 99% OK. Và nên nhớ bạn phải chắc ràng bạn đang có một bộ nguồn tốt. Vì một bộ nguồn yếu hay chập chờn có thể sẽ phá hỏng mọi công sức của bạn.

Còn tiếp… (Sưu tầm)

Các chuẩn kết nối ổ cứng

Ổ đĩa cứng là thành phần không thể thiếu của một hệ thống máy tính. Nó là nơi lưu trữ hệ điều hành, cài đặt các phần mềm, tiện ích cũng như lưu trữ dữ liệu để sử dụng.

Những hiểu biết cơ bản về ổ đĩa cứng sẽ giúp bạn sử dụng tốt hơn.

Bài viết không nhằm giới thiệu chi tiết các linh kiện, bộ phận hay cách hoạt động bên trong ổ cứng mà mang đến cho bạn hiểu biết khái quát về các loại ổ cứng thông dụng hiện nay, cách nối kết vào hệ thống, cài đặt và sử dụng.

Chuẩn kết nối: IDE và SATA

Hiện nay ổ cứng gắn trong có 2 chuẩn kết nối thông dụng là IDE và SATA. Khi muốn mua mới hoặc bổ sung thêm một ổ cứng mới cho máy tính của mình, bạn cần phải biết được bo mạch chủ (motherboard) hỗ trợ cho chuẩn kết nối nào. Các dòng bo mạch chủ được sản xuất từ 2 năm trở lại đây sẽ có thể hỗ trợ cả hai chuẩn kết nối này, còn các bo mạch chủ trở về trước thì sẽ chỉ hỗ trợ IDE. Bạn cần xem thêm thông tin hướng dẫn kèm theo của bo mạch chủ mình đang sử dụng hoặc liên hệ nhà sản xuất để biết chính xác được chuẩn kết nối mà nó hỗ trợ.

IDE (EIDE)

Parallel ATA (PATA) hay còn được gọi là EIDE (Enhanced intergrated drive electronics) được biết đến như là 1 chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng hơn 10 năm nay. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa là 100 MB/giây. Các bo mạch chủ mới nhất hiện nay gần như đã bỏ hẳn chuẩn kết nối này, tuy nhiên, người dùng vẫn có thể mua loại card PCI EIDE Controller nếu muốn sử dụng tiếp ổ cứng EIDE.

SATA (Serial ATA)

Nhanh chóng trở thành chuẩn kết nối mới trong công nghệ ổ cứng nhờ vào những khả năng ưu việt hơn chuẩn IDE về tốc độ xử lý và truyền tải dữ liệu. SATA là kết quả của việc làm giảm tiếng ồn, tăng các luồng không khí trong hệ thống do những dây cáp SATA hẹp hơn 400% so với dây cáp IDE. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 150 – 300 MB/giây. Đây là lý do vì sao bạn không nên sử dụng ổ cứng IDE chung với ổ cứng SATA trên cùng một hệ thống. Ổ cứng IDE sẽ “kéo” tốc độ ổ cứng SATA bằng với mình, khiến ổ cứng SATA không thể hoạt động đúng với “sức lực” của mình. Ngày nay, SATA là chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng nhất và cũng như ở trên, ta có thể áp dụng card PCI SATA Controller nếu bo mạch chủ không hỗ trợ chuẩn kết nối này.

Bạn có thể yên tâm là các phiên bản Windows 2000/XP/2003/Vista hay phần mềm sẽ nhận dạng và tương thích tốt với cả ổ cứng IDE lẫn SATA. Tuy vậy, cách thức cài đặt chúng vào hệ thống thì khác nhau. Do đó, bạn cần biết cách phân biệt giữa ổ cứng IDE và SATA để có thể tự cài đặt vào hệ thống của mình khi cần thiết. Cách thức đơn giản nhất để phân biệt là nhìn vào phía sau của ổ cứng, phần kết nối của nó.

Giao diện kết nối phía sau của ổ cứng IDE và SATA

Phân biệt 2 loại cáp truyền tải dữ liệu của SATA và EIDE (IDE)

Ổ cứng PATA (IDE) với 40-pin kết nối song song, phần thiết lập jumper (10-pin với thiết lập master/slave/cable select) và phần nối kết nguồn điện 4-pin, độ rộng là 3,5-inch. Có thể gắn 2 thiết bị IDE trên cùng 1 dây cáp, có nghĩa là 1 cáp IDE sẽ có 3 đầu kết nối, 1 sẽ gắn kết vào bo mạch chủ và 2 đầu còn lại sẽ vào 2 thiết bị IDE.

Ổ cứng SATA có cùng kiểu dáng và kích cỡ, về độ dày có thể sẽ mỏng hơn ổ cứng IDE do các hãng sản xuất ổ cứng ngày càng cải tiến về độ dày. Điểm khác biệt dễ phân biệt là kiểu kết nối điện mà chúng yêu cầu để giao tiếp với bo mạch chủ, đầu kết nối của ổ cứng SATA sẽ nhỏ hơn, nguồn đóng chốt, jumper 8-pin và không có phần thiết lập Master/Slave/Cable Select, kết nối Serial ATA riêng biệt. Cáp SATA chỉ có thể gắn kết 1 ổ cứng SATA.

Ngoài 2 chuẩn kết nối IDE (PATA) và SATA, các nhà sản xuất ổ cứng còn có 2 chuẩn kết nối cho ổ cứng gắn ngoài là USB, FireWire. Ưu điểm của 2 loại kết nối này so với IDE và SATA là chúng có thể cắm “nóng” rồi sử dụng ngay chứ không cần phải khởi động lại hệ thống.

Các loại kết nối của USB, FireWire 400, FireWire 800

USB (Universal Serial Bus)

USB 2.0 là chuẩn kết nối ngoại vi cho hầu hết các máy tính sử dụng hệ điều hành Windows. Loại kết nối này có tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 480 MB/giây. Tốc độ duy trì liên tục khoảng từ 10 – 30 MB/giây, tuỳ thuộc vào những nhân tố khác nhau bao gồm loại thiết bị, dữ liệu được truyền tải và tốc độ hệ thống máy tính. Nếu cổng USB của bạn thuộc phiên bản cũ hơn 1.0 hay 1.1 thì bạn vẫn có thể sử dụng ổ cứng USB 2.0 nhưng tốc độ truyền tải sẽ chậm hơn.

FireWire

FireWire còn được gọi là IEEE 1394, là chuẩn kết nối xử lý cao cấp cho người dùng máy tính cá nhân và thiết bị điện tử. Giao diện kết nối này sử dụng cấu trúc ngang hàng và có 2 cấu hình:

FireWire 400 (IEEE 1394a) truyền tải môt khối lượng dữ liệu lớn giữa các máy tính và những thiết bị ngoại vi với tốc độ 400 MB/giây. Thường dùng cho các loại ổ cứng gắn ngoài, máy quay phim, chụp ảnh kỹ thuật số…

FireWire 800 (IEEE 1394b) cung cấp kết nối tốc độ cao (800 MB/giây) và băng thông rộng cho việc truyền tải nhiều video số và không nén, các tập tin audio số chất lượng cao. Nó cung ứng khả năng linh hoạt trong việc kết nối khoảng cách xa và các tuỳ chọn cấu hình mà USB không đáp ứng được.

Có thể tham khảo thêm về USB 2.0 với FireWire 400, FireWire 800 http://www.barefeats.com/usb2.html

(Xem tiếp phần cài đặt ổ cứng vào hệ thống )

QTM

Cài đặt ổ cứng vào hệ thống

Trong phần I ta đã làm quen với các chuẩn kết nối ổ cứng và chọn cho mình được loại ổ cứng thích hợp để cài đặt. Phần này bạn sẽ thao tác ngay trên hệ thống để cài đặt ổ cứng vào sử dụng.

Để đảm bảo an toàn trước khi thực hiện công việc cài đặt, bạn cần tháo toàn bộ phích cắm nguồn điện của máy tính ra khỏi ổ nguồn, đeo thiết bị tránh tĩnh điện. Tiếp theo, bạn cần một tua-vít để mở nắp case máy tính, và tìm đến khay 3,5-inch, nếu không có ổ đĩa mềm thì khay sẽ nằm ngay bên dưới ổ CD-Rom, tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại case của bạn đang dùng mà vị trí sẽ khác biệt.

Một lưu ý nếu bạn cài đặt ổ cứng thứ 2 bổ sung cho hệ thống, bạn phải chừa một khoảng cách giữa 2 ổ cứng, vì các ổ cứng phát sinh ra nhiệt khá nhiều khi hoạt động, đặc biệt là các dòng ổ cứng với 7200 rpm, nhiệt độ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ ổ cứng. Cài đặt ổ cứng vào khay và bắt vít ở 2 cạnh bên sẽ giữ cho ổ cứng cố định khi hoạt động.


Ổ cứng IDE (trái) và SATA (phải) trên cùng một khay.


Hai bên thân ổ cứng luôn có các lỗ vít để gắn vào khay.


Cáp Molex nguồn và cáp IDE cho ổ cứng ATA (IDE).

Ổ cứng PATA (EIDE)

Ta cần thiết lập jumper trước khi gắn cáp vào ổ cứng. Jumper sẽ là Master nếu ổ cứng bạn sắp gắn sẽ cài đặt hệ điều hành và là ổ cứng chính hoặc duy nhất. Slave nếu ổ cứng đó là ổ cứng bổ sung thêm và Cable Select là tuỳ thuộc vào cáp cắm vào khe “Primary” trên bo mạch chủ hay không.

Nguồn điện sẽ cung cấp năng lượng cho ổ cứng hoạt động, cáp 4-pin Molex sẽ thực hiện công việc này. Đặc điểm nhận dạng cáp Molex là chúng có 4 dây (1 đỏ, 2 đen, 1 vàng) được dẫn từ bộ nguồn trong case máy tính và khớp với khe cắm nguồn phía sau ổ cứng. Cáp còn lại là cáp IDE 80-pin gắm vào phía sau ổ cứng.

Một điểm lưu ý quan trọng khi cắm cáp nguồn Molex và cáp IDE vào các ổ cứng IDE, ta bắt buộc phải thực hiện chính xác thao tác này. Trên thân cáp IDE (80-pin) sẽ có 1 nhánh rìa ngoài cùng có màu khác biệt rõ ràng với toàn bộ thân cáp, ta gắn cáp IDE và Molex sao cho nhánh rìa khác màu trên cáp IDE và dây màu đỏ trên cáp nguồn Molex cùng chụm vào giữa (đối mặt) với nhau (xem hình).


Gắn cáp sao cho màu đỏ cáp nguồn hướng vào với nhánh màu của cáp dữ liệu IDE.


Gắn đầu còn lại của cáp dữ liệu IDE vào khe cắm trên bo mạch chủ.

Đầu cáp IDE còn lại sẽ gắn vào đầu nối IDE trên bo mạch chủ. Nếu ổ cứng mà bạn gắn vào hệ thống là duy nhất, thì phần cáp IDE gắn lên bo mạch chủ phải được kết nối vào khe IDE chính “Primary” trên bo mạch chủ, có thể tham khảo thêm phần hướng dẫn kèm theo của bo mạch chủ.

Ổ cứng SATA

Tương tự như ổ cứng IDE, ổ SATA cũng cần có cáp nguồn SATA và cáp dữ liệu. Việc cài đặt cáp cho ổ cứng SATA có phần đơn giản hơn vì đầu kết nối sẽ vừa khít khi bạn cắm đúng. (Xem hình).


Gắn cáp cho ổ cứng SATA đơn giản hơn.


Gắn đầu còn lại của cáp dữ liệu SATA vào khe cắm trên bo mạch chủ.

Tiếp theo, cắm đầu còn lại của cáp dữ liệu SATA vào khe kết nối SATA trên bo mạch chủ. Không cần thiết lập jumper ở Master, Slave hay Cable Select vì mỗi ổ cứng SATA có riêng duy nhất một cáp cho mình.

Việc cài đặt ổ cứng hoàn tất, bước kế tiếp sẽ là kiểm tra lại cài đặt có chính xác và ổ cứng có hoạt động tốt với hệ thống hay không. Phần III sẽ giúp bạn hiểu rõ cách thức kiểm tra cài đặt.

QTM

PC 2007 top.document.title = ‘TGVT – ‘+’PC 2007’;

Thế giới máy tính Windows hiện tại đang đứng trước một giai đoạn mới. Trong vài tháng nữa, Microsoft sẽ thay thế Windows XP cũ kĩ bằng một thế hệ hoàn toàn mới – Windows Vista. Phiên bản HĐH mới này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng mua sắm thiết bị phần cứng vào năm 2007. Vista có tính bảo mật tốt hơn và thuận tiện hơn cho việc sử dụng, nhưng nó kén chọn phần cứng hơn. Thêm vào đó, việc chạy đua giới thiệu công nghệ mới của các nhà sản xuất linh kiện đẩy người dùng vào thế khó khi muốn lựa chọn cho mình một món hàng hợp lý và thỏa mãn nhu cầu.

I. Nền tảng hệ thống

Tính đến thời điểm này, Core 2 Duo được tung ra thị trường đã vài tháng, tuy nhiên Intel đã bắt đầu đưa ra thế hệ Core 2 Quad với đại diện là QX6700. Xét về hiệu năng đơn thuần, nó hơn hẳn dòng lõi kép Core 2 Extreme X6800 nhưng người dùng cần tới những ứng dụng có khả năng tận dụng được đầy đủ sức mạnh của cả 4 lõi. Dĩ nhiên AMD – đối trọng lớn nhất của Intel về CPU cũng có câu trả lời của họ với hệ thống 4×4: bo mạch chủ 2 socket cho phép chạy 2 BXL lõi kép.

Sự phát triển của CPU không phải là thứ duy nhất đáng quan tâm, hiện tại nVIDIA đã chính thức tung ra dòng GPU G80 mới với tên thương mại là GeForce 8800 và những thay đổi do kiến trúc DirectX10 thực sự đem lại ấn tượng mạnh. Tuy nhiên những ai mong muốn sử dụng công nghệ đồ họa kép của nVIDIA SLI nên sử dụng AMD AM2, những hệ thống SLI cho Core 2 Duo hiện tại chưa có hiệu năng cao do chipset bị hạn chế, tuy vậy với dòng nForce 680i SLI sắp ra, nVIDIA sẽ có thể thay đổi tình thế. ATI Crossfire nằm trong tình thế hoàn toàn ngược lại: Crossfire cho AM2 cực kì hạn chế trong khi các chipset Intel hỗ trợ Crossfire như 975x lại tràn ngập thị trường. Vì vậy, chúng ta sẽ tập trung theo 2 nhóm hệ thống chính là AMD AM2 với nVIDIA SLI và Intel Core 2 Duo với ATI Crossfire.

Chúng ta cũng cần quan tâm tới case, màn hình và những thiết bị phần cứng khác nhưng chúng sẽ phụ thuộc ít nhiều vào nền tảng hệ thống.

A. AMD và nVIDIA SLI

Chúng ta khởi đầu với hệ thống AMD, bạn sẽ khá ngạc nhiên khi với giá hợp lý có thể mua được hệ thống mạnh: một BXL tốc độ cao, card đồ họa kép, 2GB RAM và ổ cứng dung lượng lớn.

Bo mạch chủ:

Bo mạch chủ sẽ là thứ đầu tiên bạn phải quan tâm do nó quyết định hệ thống bạn sắp xây dựng mạnh hay yếu. Một máy tính mạnh chắc chắn phải được trang bị 2 khe PCI-Express x16 với băng thông đúng mức x16 cho hệ đồ họa kép. Tuy nhiên thực tế card đồ họa PCI-Express hiện tại chưa tận dụng hết băng thông x16 nên ngay cả trong chế độ SLI thế hệ đầu, PCI-E X8 cho mỗi card cũng cho hiệu năng không khác biệt nhiều. Đối với nền tảng AMD, không thể phủ nhận vị trí dẫn đầu của nForce 590 với bo mạch chủ DFI LanpartyUT nForce 590 SLI-M2R dành cho người dùng cấp cao. Nó được trang bị tụ điện nhôm mới rất bền và cho hiệu quả ép xung cao, ổn định cộng với dáng vẻ sành điệu, tuy nhiên nếu xem xét những giải pháp giá rẻ hơn như MSI K9N-SLI Platinum với chipset 570SLI, bạn sẽ tiết kiệm được tiền mà vẫn giữ được hiệu năng cao. Về vấn đề Crossfire cho AM2, hiện tại chỉ có 3 bo mạch chủ sử dụng chipset RD580 AM2 trên thị trường, một trong số đó không đáng để quan tâm, còn lại hai đối tượng chính đến từ MSI và Asus thì MSI K9A Platinum có giá rẻ hơn so với Asus M2R32-MVP. Cả hai sản phẩm này đều đáp ứng nhu cầu xây dựng hệ thống AMD Crossfire một cách hoàn hảo.

CPU:

Lựa chọn BXL, dĩ nhiên chip lõi kép là hướng đi tối ưu nhất. Windows Vista hỗ trợ đa xử lý tốt hơn nhiều so với Windows XP. Tuy nhiên việc tìm kiếm các chip Athlon64 X2 hiện tại khá khó khăn, đặc biệt là ở Việt Nam. Chip X2 4600+ sẽ là lựa chọn hợp lý vì hiện tại giá khá rẻ. Ép xung cũng là một yếu tố bạn có thể xem xét, hầu hết các chip AM2 có thể “kéo” thoải mái lên 2.6-2.8Ghz mà không cần thiết bị làm mát quá cao cấp. Bạn có thể chọn các dòng chip thấp hơn để tiết kiệm tiền nếu tự tin vào khả năng ép xung của mình.

RAM:

Việc lựa chọn bộ nhớ vào thời điểm hiện tại phức tạp hơn nhiều. Trong vài tháng qua, giá RAM tăng chóng mặt lên gần gấp rưỡi. Nếu dự định sử dụng Vista để chơi game và chạy nhiều ứng dụng nặng, bạn sẽ phải cần ít nhất 2GB RAM. Hiện tại cả hai nền tảng mới của AMD và ATI đều sử dụng DDR2 nên việc sử dụng DDR2 là điều hiển nhiên. DDR2-800 với độ trễ Cas Latency 4 là thứ bạn nên tìm kiếm để sử dụng với AM2, các thương hiệu nổi tiếng gồm có: G.Skill, GeIL, Mushkin, Corsair, OCZ… Về cơ bản nếu bạn mua RAM có cùng thông số kĩ thuật thì sự cách biệt về tốc độ giữa các nhà sản xuất là không nhiều, trong trường hợp đó bạn chỉ cần lưu ý về giá thành và chế độ bảo hành là ổn. Trong trường hợp dòng RAM tốc độ cao, bạn có thể tham khảo một vài series DDR2-1000, hầu hết các loại RAM này có thể chạy được mức 800Mhz với độ trễ thấp (khoảng 3-3-3) với điện năng tăng cường vào khoảng 2.1v-2.2v.

Đồ họa:

Dĩ nhiên khi đã chọn mua bo mạch chủ SLI, bạn sẽ quan tâm tới hệ thống đồ họa kép của nVIDIA. Tuy nhiên theo kinh nghiệm sử dụng thực tế cho thấy bạn nên cố gắng mua card đơn nhanh nhất, trước khi tính tới giải pháp kép. Nói nôm na, bạn nên mua một card 7900 thay vì chọn giải pháp SLI 2×7600. Nếu tài chính có thể đạt tới tầm mua được 7950GX2 hoặc cao hơn nữa lên dòng 8800, có nhiều giải pháp mới sẽ xuất hiện: hai card 7900GTO và 7950GT sẽ là lựa chọn tốt cho một vài tháng tới. 7900GTO được thiết kế cơ bản dựa trên 7900GTX với hệ thống tản nhiệt cao cấp hơn, xung nhịp thấp hơn và dễ dàng ép xung lên mức ngang ngửa 7900GTX nguyên bản. Tuy nhiên điểm yếu của nó là sử dụng hết 2 khe phía sau case và chưa hỗ trợ bảo vệ bản quyền số HDCP. Dòng 7950GT có xung nhịp thấp hơn nhưng chỉ dùng một khe sau case và có hỗ trợ HDCP. Tuy nhiên nó đắt hơn 7900GTO và ồn ào hơn nhiều. Nhìn chung, 7900GTO là lựa chọn tốt hơn. Dĩ nhiên nếu dư dả, bạn có thể chọn 7900GTX, hiện tại do nVIDIA đã tung ra Series 8 nên các card Series 7 giảm giá tương đối nhanh, tuy nhiên nếu đủ kiên nhẫn chờ thêm một thời gian nữa, khi các card cấp thấp của dòng 8000 được tung ra Series 7 sẽ nhanh chóng đi vào dĩ vãng. Một giải pháp nữa, nếu bạn yêu cầu rất cao về hiệu năng thì đó chính là Quad-SLI, tuy nhiên thực tế cho thấy hiệu năng tổng thể, độ tương thích và tính ổn định không được tốt. Nếu dự kiến mua màn 30″ LCD với độ phân giải game 2560×1600, Quad-SLI đáng giá nhưng bạn đừng ngạc nhiên nếu gặp trục trặc trong quá trình cài đặt.

B. Intel và ATI Crossfire

Nền tảng Intel về cơ bản tương tự như AMD tuy có khác biệt về CPU, RAM và bo mạch chủ. Do cấu trúc của Core 2 Duo có nhiều cải tiến nên khả năng tận dụng băng thông bộ nhớ tốt hơn so với AM2, chưa kể bạn sẽ cần RAM chất lượng cao để ép xung với tỉ lệ tốc độ CPU Bus/Ram Divider 1:1.

Bo mạch chủ:

Các bo mạch chủ Core 2 Duo dựa trên nền chipset P965 hiện nay đã có nhiều lựa chọn hơn, ngoài ra Intel cũng tung ra nhiều dòng mới như G965 với đồ họa tích hợp. Tuy nhiên trong hầu hết trường hợp, 975X vẫn cho hiệu năng cao hơn. Vào thời điểm hiện tại bạn đã có thể sử dụng Crossfire với P965, tuy nhiên hiệu năng không được cao và giá thành cũng chưa giảm. Nếu ít chơi game và muốn ép xung lên bus cao thì hướng đi 965 có thể chấp nhận được, tuy nhiên nhìn một cách tổng quan, 975X là lựa chọn tốt hơn. Phiên bản 975X Platinum đầu tiên của MSI có nhiều vấn đề, tuy nhiên khi hãng này tung ra 975X Platinum Power Up Edition, đây lại là một sản phẩm rất tốt. Mặc dù phiên bản cũ hiện tại hầu như không còn xuất hiện, bạn vẫn phải hết sức chú ý khi mua vì chúng có cùng số hiệu mã sản phẩm. Một vài giải pháp khác

bạn có thể quan tâm là Abit AW9D hoặc AW9D-Max, nhưng nếu đang muốn tìm bo mạch chủ 975X tốt nhất hiện nay, Asus P5W DH Deluxe đang nắm giữ vị trí này. Trong nhiều thử nghiệm, sản phẩm này dễ dàng đạt bus hệ thống 400Mhz trong khi vẫn đảm bảo tính ổn định và cung cấp khả năng hỗ trợ Crossfire 2 x8. P5W DH Deluxe có đầy đủ tiềm năng cần thiết cho phép người dùng xây dựng hệ thống máy tính desktop cao cấp nhất hiện nay. Nó cũng hỗ trợ cả Core 2 Quad QX6700. Hiện tại mức giá trên thị trường Việt Nam vào khoảng 268 USD. Một thời gian nữa, khi nForce 680i SLI của nVIDIA trở nên thông dụng hơn, đây sẽ là giải pháp hợp lý cho đồ họa kép SLI trên nền Core 2 Duo. Bạn có thể chờ đợi nếu cảm thấy hứng thú.

CPU:

Đối với CPU Core 2 Duo, bạn có nhiều lựa chọn tốt. Dĩ nhiên giải pháp cấp thấp AllenDale E6300/E6400 kèm theo ép xung cho tỉ lệ giá thành/hiệu năng tốt nhất, tuy nhiên nó lại phụ thuộc một phần vào may mắn và kĩ năng của bạn. Mặc dù vậy giải pháp này vẫn cho hiệu quả cao hơn hầu hết các hệ thống AMD hiện nay. Nếu chưa đủ thỏa mãn, các chip E6600 và 6700 thuộc dòng Conroe sẽ vào cuộc dù giá của chúng vẫn còn khá cao. Đặc biệt riêng dòng E6600, nếu mát tay ép xung, bạn có thể đạt được mức hiệu năng của X6800 ở tốc độ 3Ghz khá dễ dàng, ngay cả khi ở mức mặc định 2.4Ghz, nó cũng không thua kém gì FX62 của AMD mà giá chỉ bằng một nửa. Dĩ nhiên đỉnh cao tốc độ của Core 2 Duo hiện tại vẫn thuộc về Core 2 Extreme X6800. Nó không thua kém bất cứ CPU nào khác về điểm số trong các phép thử benchmark. Tương tự như với dòng FX của AMD, X6800 không bị khóa hệ số nhân và với kiến trúc mới của Core 2, khả năng ép xung của X6800 rất hứa hẹn.

RAM:

Như đã đề cập, bạn cần RAM tốt hơn cho Core 2 Duo so với AM2. Một ví dụ điển hình là OCZ Titanium VX2 được định mức tốc độ mặc định ở DDR2-1000 và điện năng chịu được tới 2.4V. Các loại RAM tốc độ trên 1000Mhz thường có độ trễ lớn hơn khiến cho tốc độ gia tăng không thực sự ấn tượng. Hơn thế nữa giá của chúng cũng khá cao. Tuy nhiên nếu bạn chi gần 1000 USD cho CPU, có thể bạn sẽ muốn đạt được mức hiệu năng tốt nhất trên mọi thành phần linh kiện.

Đồ họa:

Sự lựa chọn bo mạch chủ và chipset sẽ tác động đến giải pháp đồ họa của hệ thống. Đối với Intel, bạn có thể lựa chọn ATI Radeon X1900XTX với Crossfire. Xét tổng quát thì Radeon X1900 Crossfire nhanh hơn so với 7900 SLI đồng thời chi phí cũng cao hơn. Hiện nay, thế hệ mới Radeon X1950 đã xuất hiện với hai đại diện chính là X1950XTX và X1950 Pro, chúng có nhiều ưu điểm hơn so với đàn anh đi trước. Ngoài việc hỗ trợ hoàn hảo HDCP (quan trọng đối với Vista) thì cả hai card này (cùng với Radeon X1650) bắt đầu sử dụng cơ chế Native Crossfire tích hợp nhằm đơn giản hóa việc lắp ráp và cài đặt đồ họa kép. Cơ chế mới này cũng dùng cầu nối và có nhiều đặc điểm giống như SLI của nVIDIA. Thêm vào đó, dòng card mới có sẵn hai bộ truyền tín hiệu TMDS song song cho phép người dùng sử dụng hai màn hình cỡ lớn với độ phân giải lên tới 2560×1600 hoặc thậm chí cao hơn thông qua giao tiếp DVI Dual-Link. Việc xử lý tín hiệu video xuất qua cổng S-Video Out được chip ATI Rage Theater nổi tiếng đảm nhận. Đâu là những tính năng đặc biệt quan trọng khi HDTV và những chuẩn video độ nét cao trên đĩa BluRay và HD-DVD đang xuất hiện. Riêng dòng Radeon X1950XTX còn được trang bị DDR4 tốc độ 2GHz, khi đi kèm với phiên bản trình điều khiển mới nhất sẽ có cải thiện về hiệu năng. Sức ép từ Series GeForce 8000 của nVIDIA sẽ nhanh chóng đẩy Crossfire Radeon X1950 XTX trong thời gian tới trở thành một trong những lựa chọn về hệ đồ họa hợp lý nhất.

II. Thiết bị lưu trữ

Hiện tại giá thành ổ cứng khá rẻ và tốc độ lại rất tốt. Bạn có thể lựa chọn từ 250GB trở lên tùy theo nhu cầu. Với bộ đệm 16MB, hỗ trợ NCQ và SATA0-2, Barracuda 7200.10 của Seagate đang là sản phẩm có giá thành tốt nhất. Bạn cũng có thể xem xét những model dung lượng 320GB trở lên vì số tiền phải chi thêm không nhiều. Mặc dù không cần thiết phải có tới 2 ổ cứng trong cùng một máy tính nhưng nếu lắp như thế bạn có thể tận dụng được ưu thế tốc độ hoặc tính an toàn dữ liệu của RAID-0 hoặc RAID-1. Ngay cả khi không muốn sử dụng RAID, hiệu năng cũng có thể được cải thiện trong Windows bằng cách đặt các file tráo đổi cũng như ứng dụng sang ổ đĩa cứng thứ hai. Dĩ nhiên với 2 ổ đĩa, tổng dung lượng lưu trữ cũng sẽ gia tăng. Một số nhà sản xuất lại đi theo hướng phát triển các loại ổ đĩa tốc độ cực cao như Western Digital với dòng Raptor, tuy nhiên điểm yếu của các ổ loại này là dung lượng khá bé nhưng giá thành lại cao. Nhìn chung không có một công thức nào cụ thể cho việc lựa chọn ổ cứng, bạn phải tự đánh giá nhu cầu cá nhân và chọn mức dung lượng cũng như kiểu cấu hình phù hợp.

Một thiết bị không thể thiếu trong hệ thống của bạn vào năm 2007 là ổ quang với khả năng ghi đĩa (đây cũng là yếu tố được yêu cầu trong Windows Vista Premium). Với HD-DVD và Blu-Ray đang ngấp nghé đe dọa, giá ổ DVD-RW đang giảm mạnh hơn bao giờ hết. Bạn cũng có thể tính đến giải pháp trang bị 2 ổ quang của hai hãng sản xuất khác nhau trong hệ thống của mình để đảm bảo tính tương thích tốt nhất đối với các loại đĩa. Tuy những hứa hẹn công nghệ mà Blu-Ray cũng như HD-DVD mang lại rất hấp dẫn nhưng chúng còn quá mới chưa khẳng định được vị thế trên thị trường kèm theo mức giá còn quá cao.

III. Màn hình, case và phụ kiện

Sau khi đã gom đủ các thành phần chính, bạn sẽ cần case để gắn chúng vào. Sau đó sắm thêm nguồn, bàn phím, chuột và loa là mọi thứ sẵn sàng. Nếu đang sử dụng máy cũ, bạn có thể tận dụng lại một số linh kiện. Tuy nhiên do những thiết bị đời mới sử dụng nhiều chuẩn giao tiếp mới cũng như ngốn điện năng nhiều hơn nên việc sử dụng nguồn và case mới gần như là bắt buộc. Tuy nhiên ở điều kiện nước ta, bạn không có nhiều lựa chọn.

Ảnh hưởng của Vista đối với các màn hình trong tương lai có phần khó nhận thấy. Màn hình rộng (widescreen) hiện tại cho phép hiển thị độ phân giải rất cao như Dell 2407WFP. Nếu như bạn có phần cứng đồ họa với cơ cấu phối hợp co giãn của Vista, các loại kí tự sẽ được hiển thị chính xác. Một font 12-pts sẽ đúng 12 điểm trên màn hình. Điều này mở ra nhiều khả năng mới cho vấn đề hiển thị trên những màn hình có mật độ pixel dày đặc cho phép độ phân giải lớn. Lưu ý, màn hình cỡ lớn sẽ yêu cầu giao tiếp DVI DualLink hoặc một số kiểu giao tiếp cao cấp khác để có thể truyền tải đầy đủ dữ liệu từ card đồ họa tới bộ phận hiển thị. Ngoài ra, màn hình tương thích Windows Vista sẽ phải hỗ trợ các phương án bảo vệ bản quyền số HDCP. Đây sẽ là chuẩn bắt buộc đối với các ứng dụng trình diễn nội dung đa phương tiện số. Một vấn đề nữa cũng đang ngày càng có ảnh hưởng lớn đó chính là giao tiếp vật lý: Hiện tại vẫn chỉ có một số ít máy tính có cổng HDMI nhưng cuộc chiến để giành vị trí thay thế cho VGA và DVI hiện tại sẽ diễn ra giữa hai chuẩn DP (DisplayPort) và UDI (Universal Display Interface). DP là chuẩn mới của VESA còn UDI của UDI SIG. Cả hai đều là những tập đoàn phần cứng lớn, có ảnh hưởng, trong đó VESA đã nổi tiếng trong giới PC từ lâu, còn UDI-SIG lại đại diện cho các công ty tên tuổi như Intel, Apple, Silicon Image… Hiện tại vẫn chưa thể nói trước được điều gì nhưng DP là chuẩn miễn phí, trong khi UDI có thế mạnh vì tương thích với HDMI. Cả hai giao tiếp đều cung cấp băng thông số rộng với nhiều kiểu mã hóa khác nhau.

Trong một vài năm qua, bộ nguồn của máy tính (Power Supply Unit – PSU) càng ngày càng được người mua hàng trong nước chú trọng hơn.

Như đề cập ở trên, một chiếc máy tính cấu hình mạnh tương thích được với Vista Premium sẽ yêu cầu năng lượng nguồn tương đối lớn. Card đồ họa cao cấp với DirectX 10 và công nghệ đồ họa kép, CPU Dual Core hay Quad Core, RAM dung lượng lớn, ổ cứng tốc độ cao, ổ ghi quang thế hệ mới, tất cả đều ngốn điện khủng khiếp. Có thể thấy, bộ nguồn công suất cao là yếu tố bắt buộc đầu tiên. Khi công suất tiêu thụ càng cao, hiệu suất nguồn đóng vai trò càng quan trọng. Mỗi bộ nguồn đều có một chỉ số về hiệu suất điện nhất định, con số này được quyết định bởi nhiều yếu tố nhưng nhìn chung, trong khi các loại nguồn thông dụng trên thị trường hiện nay chỉ đạt hiệu suất từ 65%-70% (các loại tốt hơn có thể đạt được 70%-75%) thì quả thực lượng điện tiêu phí khá nhiều. Ví dụ bộ nguồn có chỉ số hiệu suất là 70% (Efficiency) và nếu máy tính của bạn sử dụng khoảng 400W thì nguồn sẽ phải sử dụng công suất điện ngoài khoảng 570W để cấp đủ điện cho toàn hệ thống. Như vậy thay vì tìm cách giảm thiểu công suất điện của các thành phần trong máy (thường rất phức tạp) thì cách đơn giản nhất để tiết kiệm điện năng là chế tạo một bộ nguồn với hiệu suất cao. Song song với việc này là giảm nhiệt lượng sản sinh để vấn đề làm mát sẽ đơn giản hơn. Kết quả cuối cùng sẽ là một sản phẩm có chất lượng cao, giá thành rẻ và êm ái, phù hợp với nhu cầu sử dụng máy tính của đại đa số người dùng.

Nói chung, nên chọn bộ nguồn có công suất tối thiểu 500W hay cao hơn. Hiện tại đã xuất hiện loại nguồn công suất 1KW. Ngoài ra còn phải có các giao tiếp cung cấp điện đáp ứng được yêu cầu của phần cứng mới như đầu điện cho ổ cứng SATA, đầu cắm ATX 2.0 24 chân, đầu nối card đồ họa PCI-Express 6 chân (2 đầu cắm nếu bạn dự định sử dụng SLI của nVIDIA hoặc Crossfire của ATI về sau này) và một số bo mạch chủ mới, ví dụ Asus M2N32-SLI còn yêu cầu cả đường 12v EPS 8 chấu, dĩ nhiên các nguồn cũ vẫn có thể cắm được nhưng rõ ràng máy tính không có đủ nguồn nuôi để hoạt động ở hiệu năng cao nhất. Tốt hơn bạn nên chọn các sản phẩm có tên tuổi như PC Power & Cooling, MGE, Antec, Zippy, CoolerMaster, Seasonic… để đảm bảo hiệu năng và độ an toàn cao cho hệ thống thay vì những bộ nguồn rẻ tiền không rõ xuất xứ. Xu thế chung của bộ nguồn trong thời gian tới sẽ chú trọng vào 4 yếu tố chính: hiệu suất cao, độ ồn thấp, công suất lớn và bổ sung nhiều giao tiếp. Bốn yếu tố này hỗ trợ và bổ sung cho nhau.

Vai trò của case hiện nay quan trọng hơn nhiều chứ không đơn thuần chỉ là thứ để gá linh kiện như vài năm trước đây. Trước kia, nếu bạn đề cập đến vấn đề đưa đèn trang trí và các phụ kiện làm đẹp vào bên trong máy tính, người ta sẽ bảo rằng đó là điều không cần thiết. Khi đó người dùng chỉ quan tâm đến vấn đề “máy tính làm được gì ?” chứ chưa chú trọng “trông nó như thế nào?” hay “bền được bao lâu?”. Trong khoảng 1 năm trở lại đây, vấn đề làm đẹp cho người bạn trung thành này đang dần được quan tâm vì máy tính không chỉ là một công cụ làm việc hay giải trí mà còn là một phần kiến trúc của văn phòng công ty hay phòng khách nhà bạn.

Hiện tại bạn có thể tìm thấy đủ mọi loại case với chất liệu khác nhau. Từ nhôm, thép, tôn, sắt, thép không rỉ cho tới mica, thủy tinh (hiếm hơn)… trong đó nhôm được ưa chuộng bậc nhất do tính thoát nhiệt nhanh, trọng lượng nhẹ, màu sắc đẹp. Đa số các case làm từ nhôm đều thuộc dòng cao cấp và là niềm tự hào của các nhà sản xuất chuyên nghiệp có tên tuổi như NZXT, CoolerMaster, LianLi… Với mức giá thấp, các loại case có nguồn gốc không rõ ràng đang tràn lan trên thị trường đều được tạo nên từ nhựa và tôn hoặc một số kim loại rẻ tiền. Chính vì thế chúng thường không bền, dễ bị ăn mòn và nhiễm từ làm ảnh hưởng tới các linh kiện máy tính đắt tiền bên trong. Chưa kể các chi tiết được chế tạo không chính xác khi lắp linh kiện vào sẽ bị lệch, gây méo hoặc cong, tệ hơn nữa có thể gây thương tích cho bạn khi cố gắng lắp ráp chúng lại với nhau.

Những yếu tố quan trọng đối với case bao gồm: không gian rộng rãi đủ chứa các thiết bị mới, bố trí vị trí các quạt thông gió và thành phần làm mát hợp lý, chất liệu phải đủ bền và không bị lưu nhiệt trong thùng máy. Nên chọn một case máy tính phù hợp vì nó sẽ gắn bó và bảo vệ các linh kiện quan trọng đắt tiền của bạn trong một thời gian dài về sau.

Nhìn chung, tư tưởng một máy tính làm tất cả mọi việc hiện không còn phù hợp. Mỗi người đều có những nhu cầu riêng, từ chơi game, làm việc văn phòng hay giải trí đa phương tiện, bản thân mỗi thành phần lại có những điểm khác biệt nhất định có tác động tới việc lựa chọn phần cứng tối ưu. Một chiếc máy tính đủ mạnh chơi game chưa chắc đã xem phim đẹp.

IV. Hệ điều hành

Windows Vista dĩ nhiên sẽ là hướng đi chủ đạo trong năm 2007, nếu sắm đầy đủ những linh kiện với chứng nhận Vista Capable bạn sẽ đáp ứng được tối thiểu cho Vista Home Basic, cao cấp hơn bạn sẽ phải cần tới Vista Premium Ready. Những yêu cầu chính của phiên bản HĐH mới này tập trung chủ yếu vào bo mạch chủ, CPU, VGA và một số thành phần thiết yếu bổ sung tính năng như ổ ghi, thiết bị thu phát tín hiệu TV…

Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Windows phiên bản cũ đã hết thời. Với cấu hình máy mới hiện nay, bạn có thể chạy được đầy đủ Windows XP cả hai phiên bản X32 và X64 cùng với nhiều HĐH khác như Linux. Bạn nên tránh Windows XP Home và tập trung vào phiên bản Professional hoặc Media Center Edition, chúng có chung mã nguồn nhưng khác nhau một chút về tính năng hỗ trợ giải trí đa phương tiện. Nếu máy tính có trên 4GB ram, bạn nên chú ý đến HĐH 64-bit dù tính tương thích của chúng vào thời điểm hiện nay chưa được tốt.

Tất nhiên bài viết này chưa thể cung cấp thông tin thật đầy đủ và chi tiết, nếu cảm thấy phân vân, bạn có thể tham khảo thêm thông tin từ những nguồn tin cậy. Tuy vậy hãy nhớ rằng tháng tới hay thậm chí là năm tới đều không phải thời điểm lý tưởng để nâng cấp máy, lý tưởng nhất chính là khi bạn không còn hài lòng về chiếc máy đang sử dụng hoặc… mới trúng số.
TGVT

H-E USB Netlink và những giải pháp cho việc nối kết hai máy tính

Trước đây, mỗi khi cần kết nối hai máy tính cá nhân trong gia đình hay văn phòng nhỏ thường rất khó khăn (tất nhiên ở đây không đề cập đến mạng nội bộ nhiều hơn 2 máy). Mặc dù đã có rất nhiều giải pháp hỗ trợ người dùng giải quyết vấn đề này, nhưng mỗi giải pháp đều có những hạn chế nhất định. Đầu tiên, chúng ta có thể dùng cáp nối trực tiếp qua cổng máy in (Direct link cable) hoặc cổng tuần tự (serial) để kết nối hai máy tính, sau đó sử dụng những chương trình ở dạng DOS như “Term95”, “Norton Commander 5” hoặc dùng tính năng “Direct cable Connection” trong Windows. Với cách làm này, chúng ta chỉ có thể chuyển dữ liệu qua lại một cách thô sơ giữa hai máy tính theo chế độ một máy phục vụ (Server) và một máy sử dụng (Client), cộng thêm vào đó là tốc độ kết nối cũng cực kỳ khiêm tốn dựa trên tốc độ cổng máy tính.

Cách làm thứ hai, là sử dụng hai card mạng gắn vào hai máy tính, sau đó nối chúng lại bằng dây cáp mạng UTP với đầu cắm RJ45 bấm theo chuẩn chéo (Cross-over cable). Cách làm này tạo một mạng LAN đảm bảo việc liên lạc thông suốt giữa hai máy tính nhưng không linh hoạt vì rất khó thực hiện nhanh khi cần nối hai máy tính bất kỳ. Đó là do không phải máy tính nào cũng có sẵn card mạng, còn việc lắp đặt và cấu hình một card mạng mới vào máy tính sẽ đòi hỏi phải còn dư khe cắm, chưa cạn tài nguyên máy tính và một số kinh nghiệm nhất định về mạng của người thực hiện.

Tuy nhiên, từ khi có cổng USB với các chuẩn từ 1.1 đến 2.0 (tương thích ngược), hàng loạt các giải pháp cho việc kết nối giữa hai máy tính ra đời giúp đơn giản hóa thao tác này hơn rất nhiều. Chúng ta không những có thể kết nối hai máy tính mà chúng ta còn có thể kết nối bất kỳ thiết bị nào có dùng cổng USB. Chúng ta có thể kết nối máy tính với máy in, scanner, modem dùng kết nối Internet…. Và với H-E USB Netlink, chúng ta còn làm được nhiều điều hơn thế. Đầu tiên chúng ta có thể dùng H-E USB Netlink như một card mạng nội bộ và như vậy nghĩa là với thiết bị kết nối đơn giản này, bạn có thể tạo nên một mạng nội bộ mà không cần dùng đến card mạng. Hoặc nếu như bạn vẫn còn thích sử dụng kiểu kết nối trực tiếp như trước đây với những chương trình quen thuộc, bạn vẫn có thể sử dụng thiết bị USB này với tốc độ cao hơn gấp nhiều lần. Khi chạy với driver card mạng, H-E USB hỗ trợ các giao thức mạng chính như TCP/ IP, NETBEUI, IPX/ SPX.

Như vậy có năm giải pháp chính cho việc sử dụng H-E USB Netlink:

Thứ nhất, bạn dùng để nối hai máy tính lại với nhau. Thứ hai, bạn mắc nối tiếp các máy tính thành một mạng. Thứ ba, bạn dùng cáp H-E USB Netlink để chia sẻ các tài nguyên mạng hay chia sẻ kết nối Internet qua điện thoại hay ADSL. Thứ tư, bạn dùng H-E USB như card mạng để nối một máy tính vào một mạng LAN có sẵn (thông qua việc nối vào với một máy trong mạng ấy). Thứ năm, bạn sử dụng một USB Hub, sau đó kết nối nhiều máy tính lại với nhau thành một mạng sử dụng cổng USB.

H-E USB Netlink có 2 loại hoặc hỗ trợ chuẩn USB1.1 hoặc USB2.0. Quá trình cài đặt cũng rất đơn giản, bạn chỉ cần cắm H-E USB Netlink vào cổng USB của máy tính, sau đó chọn loại driver phù hợp trên đĩa CD đi kèm là xong. Cấu hình yêu cầu tối thiểu để cài đặt là Intel 486DX 66MHz hoặc mạnh hơn và dĩ nhiên phải có sẵn cổng USB. Hệ điều hành Windows 95 OSR2, 98(SE), ME, 2000, XP, Mac OS8.6, Linux 2.4.

dan_911

Hướng dẫn lắp và cài Card màn hình mới.

Bước 1


Gỡ bỏ trình điều khiển của card màn hình cũ. Trước khi bạn cài đặt card màn hình mới, bạn cần gỡ bỏ trình điều khiển của cạc màn hình cũ để tránh xung đột. Click phải chuột lên My Computer và chọn Properties. Trong thẻ Hardware, chọn Device Manager. Card màn hình của bạn có thể được hiển thị dưới phần Display Adapter. Click đúp lên tên của card màn hình để mở cửa sổ thuộc tính card màn hình hiện tại. Cuối cùng ở thẻ Driver, click nút Uninstall.

Bước 2




Gỡ bỏ card cũ. Tắt máy và rút phích điện. Mở vỏ máy tính ra và tìm khe AGP (thường thì nó có màu nâu để phân biệt với màu trắng của khe PCI. Bạn hãy tháo ốc vít Card với vỏ máy tính rồi nhẹ nhàng rút Card ra.

Bước 3



Cài đặt Card mới. Lấy Card ra khỏi hộp và nhớ chú ý đọc kỹ hướng dẫn của card trước khi lắp vào máy. Ấn nhẹ với lực vừa phải vào cả hai đầu như hình vẽ. Hệ thống của bạn sẽ không hoạt động nếu như card bị lỏng hoặc kênh. Lắp vít cho thật chặt rồi đóng nắp vỏ máy tính lại.

Bước 4



Cài đặt trình điều khiển mới. Bạn hãy bật máy tính lên và cài đặt trình điều khiển mới cho carf màn hình. Nếu hệ điều hành của bạn là Windows XP thì có thể sẽ tự động nhận thiết bị mới và đưa bạn tới ngay màn hình tư động cài đặt phần cứng mới. Nếu Windows không nhận được card, click Settings từ thực đơn Start. Mở Control Panel và Add Hardware. Từ đây, một hướng dẫn cài đặt sẽ tự động hiện ra giúp bạn cài đặt trình điều khiển mới từ đĩa CD kèm theo. Sau khi cài xong bạn hãy khởi động lại máy.

Bộ xử lý máy tính cá nhân phần I top.document.title = ‘TGVT – ‘+’Bộ xử lý máy tính cá nhân’;


“Con đường phía trước của BXL máy tính để bàn”, ID: A0702_88 phần nào cho chúng ta thấy BXL máy tính trong tương lai. BXL máy tính đã thay đổi rất nhiều so với ban đầu, từ BXL 4bit 4004 của Intel, AM2900 của AMD đầu thập niên 70 cho đến những BXL 64bit hiện nay; từ BXL dành cho máy tính cá nhân (PC) đầu tiên của Intel cho đến BXL máy tính 4 nhân, 8 nhân trong năm 2007 và hơn nữa trong tương lai. Chúng ta sẽ cùng nhìn lại chặng đường 36 năm phát triển của BXL đầy những cạnh tranh gay gắt, và điểm qua những công nghệ áp dụng trong BXL máy tính.

BXL 4bit
4004 là BXL đầu tiên được Intel giới thiệu vào tháng 11 năm 1971, sử dụng trong máy tính (calculator) của Busicom. 4004 có tốc độ 740KHz, khả năng xử lý 0,06 triệu lệnh mỗi giây (milion instructions per second – MIPS); được sản xuất trên công nghệ 10 µm, có 2.300 transistor (bóng bán dẫn), bộ nhớ mở rộng đến 640 byte.

4040, phiên bản cải tiến của 4004 được giới thiệu vào năm 1974, có 3.000 transistor, tốc độ từ 500 KHz đến 740KHz.

BXL 8bit
8008 (năm 1972) được sử dụng trong thiết bị đầu cuối Datapoint 2200 của Computer Terminal Corporation (CTC). 8008 có tốc độ 200kHz, sản xuất trên công nghệ 10 µm, với 3.500 transistor, bộ nhớ mở rộng đến 16KB.

8080 (năm 1974) sử dụng trong máy tính Altair 8800, có tốc độ gấp 10 lần 8008 (2MHz), sản xuất trên công nghệ 6 µm, khả năng xử lý 0,64 MIPS với 6.000 transistor, có 8 bit bus dữ liệu và 16 bit bus địa chỉ, bộ nhớ mở rộng tới 64KB.

8085 (năm 1976) sử dụng trong Toledo scale và những thiết bị điều khiển ngoại vi. 8085 có tốc độ 2MHz, sản xuất trên công nghệ 3 µm, với 6.500 transistor, có 8 bit bus dữ liệu và 16 bit bus địa chỉ, bộ nhớ mở rộng 64KB.

BXL 16bit

8086 xuất hiện tháng 6 năm 1978, sử dụng trong những thiết bị tính toán di động. 8086 được sản xuất trên công nghệ 3 µm, với 29.000 transistor, có 16 bit bus dữ liệu và 20 bit bus địa chỉ, bộ nhớ mở rộng 1MB. Các phiên bản của 8086 gồm 5, 8 và 10 MHz.

8088 trình làng vào tháng 6 năm 1979, là BXL được IBM chọn đưa vào chiếc máy tính (PC) đầu tiên của mình; điều này cũng giúp Intel trở thành nhà sản xuất BXL máy tính lớn nhất trên thế giới. 8088 giống hệt 8086 nhưng có khả năng quản lý địa chỉ dòng lệnh. 8088 cũng sử dụng công nghệ 3 µm, 29.000 transistor, kiến trúc 16 bit bên trong và 8 bit bus dữ liệu ngoài, 20 bit bus địa chỉ, bộ nhớ mở rộng tới 1MB. Các phiên bản của 8088 gồm 5 MHz và 8 MHz.

80186 (năm 1982) còn gọi là iAPX 186. Sử dụng chủ yếu trong những ứng dụng nhúng, bộ điều khiển thiết bị đầu cuối. Các phiên bản của 80186 gồm 10 và 12 MHz.

80286 (năm 1982) được biết đến với tên gọi 286, là BXL đầu tiên của Intel có thể chạy được tất cả ứng dụng viết cho các BXL trước đó, được dùng trong PC của IBM và các PC tương thích. 286 có 2 chế độ hoạt động: chế độ thực (real mode) với chương trình DOS theo chế độ mô phỏng 8086 và không thể sử dụng quá 1 MB RAM; chế độ bảo vệ (protect mode) gia tăng tính năng của bộ vi xử lý, có thể truy xuất đến 16 MB bộ nhớ.

286 sử dụng công nghệ 1,5 µm, 134.000 transistor, bộ nhớ mở rộng tới 16 MB. Các phiên bản của 286 gồm 6, 8, 10, 12,5, 16, 20 và 25MHz.

BXL 32bit

Intel386 gồm các họ 386DX, 386SX và 386SL. Intel386DX là BXL 32 bit đầu tiên Intel giới thiệu vào năm 1985, được dùng trong các PC của IBM và PC tương thích. Intel386 là một bước nhảy vọt so với các BXL trước đó. Đây là BXL 32 bit có khả năng xử lý đa nhiệm, nó có thể chạy nhiều chương trình khác nhau cùng một thời điểm. 386 sử dụng các thanh ghi 32 bit, có thể truyền 32 bit dữ liệu cùng lúc trên bus dữ liệu và dùng 32 bit để xác định địa chỉ. Cũng như BXL 80286, 80386 hoạt động ở 2 chế độ: real mode và protect mode.

386DX sử dụng công nghệ 1,5 µm, 275.000 transistor, bộ nhớ mở rộng tới 4GB. Các phiên bản của 386DX gồm 16, 20, 25 và 33 MHz (công nghệ 1 µm).
386SX (năm1988) sử dụng công nghệ 1,5 µm, 275.000 transistor, kiến trúc 32 bit bên trong, 16 bit bus dữ liệu ngoài, 24 bit bus địa chỉ, bộ nhớ mở rộng 16MB; gồm các phiên bản 16, 20, 25 và 33 MHz.

386SL (năm1990) được thiết kế cho thiết bị di động, sử dụng công nghệ 1 µm, 855.000 transistor, bộ nhớ mở rộng 4GB; gồm các phiên bản 16, 20, 25 MHz.
486DX ra đời năm 1989 với cấu trúc bus dữ liệu 32 bit. 486DX có bộ nhớ sơ cấp (L1 cache) 8 KB để giảm thời gian chờ dữ liệu từ bộ nhớ đưa đến, bộ đồng xử lý toán học được tích hợp bên trong. Ngoài ra, 486DX được thiết kế hàng lệnh (pipeline), có thể xử lý một chỉ lệnh trong một xung nhịp.

486DX sử dụng công nghệ 1 µm, 1,2 triệu transistor, bộ nhớ mở rộng 4GB; gồm các phiên bản 25 MHz, 35 MHz và 50 MHz (0,8 µm).
486SX (năm 1991) dùng trong dòng máy tính cấp thấp, có thiết kế giống hệ 486DX nhưng không tích hợp bộ đồng xử lý toán học. 486DX sử dụng công nghệ 1 µm (1,2 triệu transistor) và 0,8 µm (0,9 triệu transistor), bộ nhớ mở rộng 4GB; gồm các phiên bản 16, 20, 25, 33 MHz.

486SL (năm 1992) là BXL đầu tiên dành cho máy tính xách tay (MTXT), sử dụng công nghệ 0,8 µm, 1,4 triệu transistor, bộ nhớ mở rộng 4GB; gồm các phiên bản 20, 25 và 33 MHz.

Intel Pentium, BXL thế hệ kế tiếp 486 ra đời năm 1993. Cải tiến lớn nhất của Pentium là thiết kế hai hàng lệnh (pipeline), dữ liệu bên trong có khả năng thực hiện hai chỉ lệnh trong một chu kỳ, do đó Pentium có thể xử lý chỉ lệnh nhiều gấp đôi so với 80486 DX trong cùng thời gian. Bộ nhớ sơ cấp 16KB gồm 8 KB chứa dữ liệu và 8 KB khác để chứa lệnh. Bộ đồng xử lý toán học được cải tiến giúp tăng khả năng tính toán đối với các trình ứng dụng.

Pentium sử dụng công nghệ 0,8 µm chứa 3,1 triệu transistor, có các tốc độ 60, 66 MHz (socket 4 273 chân, PGA). Các phiên bản 75, 90, 100, 120 MHz sử dụng công nghệ 0,6 µm chứa 3,3 triệu transistor (socket 7, PGA). Phiên bản 133, 150, 166, 200 sử dụng công nghệ 0,35 µm chứa 3,3 triệu transistor (socket 7, PGA)

Ghi chú: Bạn đọc có thể tham khảo thêm thông tin về các đế cắm BXL tại http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_CPU_sockets.
Pentium MMX (năm 1996), phiên bản cải tiến của Pentium với công nghệ MMX được Intel phát triển để đáp ứng nhu cầu về ứng dụng đa phương tiện và truyền thông. MMX kết hợp với SIMD (Single Instruction Multiple Data) cho phép xử lý nhiều dữ liệu trong cùng chỉ lệnh, làm tăng khả năng xử lý trong các tác vụ đồ họa, đa phương tiện.

Pentium MMX sử dụng công nghệ 0,35 µm chứa 4,5 triệu transistor, có các tốc độ 166, 200, 233 MHz (Socket 7, PGA).

Pentium Pro. Nối tiếp sự thành công của dòng Pentium, Pentium Pro được Intel giới thiệu vào tháng 9 năm 1995, sử dụng công nghệ 0,6 và 0,35 µm chứa 5,5 triệu transistor, socket 8 387 chân, Dual SPGA, hỗ trợ bộ nhớ RAM tối đa 4GB. Điểm nổi bật của Pentium Pro là bus hệ thống 60 hoặc 66MHz, bộ nhớ đệm L2 (cache L2) 256KB hoặc 512KB (trong một số phiên bản).
Pentium Pro có các tốc độ 150, 166, 180, 200 MHz.

Pentium II (năm 1997), phiên bản cải tiến từ Pentium Pro được sử dụng trong những dòng máy tính cao cấp, máy trạm (workstation) hoặc máy chủ (server). Pentium II có bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 512KB, tích hợp công nghệ MMX được cải tiến giúp việc xử lý dữ liệu video, audio và đồ họa hiệu quả hơn. Pentium II có đế cắm dạng khe – Single-Edge contact (SEC) 242 chân, còn gọi là Slot 1.

BXL Pentium II đầu tiên, tên mã Klamath, sản xuất trên công nghệ 0,35 µm, có 7,5 triệu transistor, bus hệ thống 66 MHz, gồm các phiên bản 233, 266, 300MHz.

Pentium II, tên mã Deschutes, sử dụng công nghệ 0,25 µm, 7,5 triệu transistor, gồm các phiên bản 333MHz (bus hệ thống 66MHz), 350, 400, 450 MHz (bus hệ thống 100MHz).
Celeron (năm 1998) được “rút gọn” từ kiến trúc BXL Pentium II, dành cho dòng máy cấp thấp. Phiên bản đầu tiên, tên mã Covington không có bộ nhớ đệm L2 nên tốc độ xử lý khá chậm, không gây được ấn tượng với người dùng. Phiên bản sau, tên mã Mendocino, đã khắc phục khuyết điểm này với bộ nhớ đệm L2 128KB.

Covington sử dụng công nghệ 0,25 µm, 7,5 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, bus hệ thống 66MHz, đế cắm 242 chân Slot 1 SEPP (Single Edge Processor Package), tốc độ 266, 300 MHz.

Mendocino cũng sử dụng công nghệ 0,25 µm có đến 19 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 128KB, bus hệ thống 66 MHz, đế cắm Slot 1 SEPP hoặc socket 370 PPGA, tốc độ 300, 333, 366, 400, 433, 466, 500, 533 MHz.

Pentium III (năm 1999) bổ sung 70 lệnh mới (Streaming SIMD Extensions – SSE) giúp tăng hiệu suất hoạt động của BXL trong các tác vụ xử lý hình ảnh, audio, video và nhận dạng giọng nói. Pentium III gồm các tên mã Katmai, Coppermine và Tualatin.

Katmai sử dụng công nghệ 0,25 µm, 9,5 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 512KB, đế cắm Slot 1 SECC2 (Single Edge Contact cartridge 2), tốc độ 450, 500, 550, 533 và 600 MHz (bus 100 MHz), 533, 600 MHz (bus 133 MHz).

Coppermine sử dụng công nghệ 0,18 µm, 28,1 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 256 KB được tích hợp bên trong nhằm tăng tốc độ xử lý. Đế cắm Slot 1 SECC2 hoặc socket 370 FC-PGA (Flip-chip pin grid array), có các tốc độ như 500, 550, 600, 650, 700, 750, 800, 850 MHz (bus 100MHz), 533, 600, 667, 733, 800, 866, 933, 1000, 1100 và 1133 MHz (bus 133MHz).

Tualatin áp dụng công nghệ 0,13 µm có 28,1 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 256 KB hoặc 512 KB tích hợp bên trong BXL, socket 370 FC-PGA (Flip-chip pin grid array), bus hệ thống 133 MHz. Có các tốc độ như 1133, 1200, 1266, 1333, 1400 MHz.

Celeron Coppermine (năm 2000) được “rút gọn” từ kiến trúc BXL Pentium III Coppermine, còn gọi là Celeron II, được bổ sung 70 lệnh SSE. Sử dụng công nghệ 0,18 µm có 28,1 triệu transistor, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 256 KB tích hợp bên trong BXL, socket 370 FC-PGA, Có các tốc độ như 533, 566, 600, 633, 667, 700, 733, 766, 800 MHz (bus 66 MHz), 850, 900, 950, 1000, 1100, 1200, 1300 MHz (bus 100 MHz).

Tualatin Celeron (Celeron S) (năm 2000) được “rút gọn” từ kiến trúc BXL Pentium III Tualatin, áp dụng công nghệ 0,13 µm, bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 256 KB tích hợp, socket 370 FC-PGA, bus hệ thống 100 MHz, gồm các tốc độ 1,0, 1,1, 1,2, 1,3 và 1,4 GHz.

Pentium 4 được Intel giới thiệu vào năm 2000 đã mở ra một kỷ nguyên mới của BXL máy tính và cũng bổ sung sự “rắc rối” cho người dùng với một số tên gọi, đế cắm khó nhớ khác. Chúng ta sẽ tiếp tục ‘điểm mặt” các BXL Pentium 4, Pentium D, Core 2 Duo trong bài viết tiếp theo và cũng không thể quên AMD, “bạn đồng hành” với Intel trên “con đường” BXL máy tính.

pcworld

Bộ xử lý máy tính cá nhân (phần 2) top.document.title = ‘TGVT – ‘+’Bộ xử lý máy tính cá nhân (phần 2)’;


BXL 32 BIT, VI KIẾN TRÚC NetBurst (NetBurst MICRO-ARCHITECTURE)

BXL Pentium 4

Intel Pentium 4 (P4) là BXL thế hệ thứ 7 dòng x86 phổ thông, được giới thiệu vào tháng 11 năm 2000. P4 sử dụng vi kiến trúc NetBurst có thiết kế hoàn toàn mới so với các BXL cũ (PII, PIII và Celeron sử dụng vi kiến trúc P6). Một số công nghệ nổi bật được áp dụng trong vi kiến trúc NetBurst như Hyper Pipelined Technology mở rộng số hàng lệnh xử lý, Execution Trace Cache tránh tình trạng lệnh bị chậm trễ khi chuyển từ bộ nhớ đến CPU, Rapid Execution Engine tăng tốc bộ đồng xử lý toán học, bus hệ thống (system bus) 400 MHz và 533 MHz; các công nghệ Advanced Transfer Cache, Advanced Dynamic Execution, Enhanced Floating point và Multimedia Unit, Streaming SIMD Extensions 2 (SSE2) cũng được cải tiến nhằm tạo ra những BXL tốc độ cao hơn, khả năng tính toán mạnh hơn, xử lý đa phương tiện tốt hơn. Tham khảo thêm thông tin trong bài viết “Pentium 4 trên đường định hình” (TGVT A, số 1/2001, Tr.54)

Pentium 4 đầu tiên (tên mã Willamette) xuất hiện cuối năm 2000 đặt dấu chấm hết cho “triều đại” Pentium III. Willamette sản xuất trên công nghệ 0,18 µm, có 42 triệu transistor (nhiều hơn gần 50% so với Pentium III), bus hệ thống (system bus) 400 MHz, bộ nhớ đệm tích hợp L2 256 KB, socket 423 và 478. P4 Willamette có một số tốc độ như 1,3, 1,4, 1,5, 1,6, 1,7, 1,8, 1,9, 2,0 GHz.

Ghi chú:

– Socket 423 chỉ xuất hiện trong khoảng thời gian rất ngắn, từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 8 năm 2001 và bị thay thế bởi socket 478.

– Xung thực (FSB) của Pentium 4 là 100 MHz nhưng với công nghệ Quad Data Rate cho phép BXL truyền 4 bit dữ liệu trong 1 chu kỳ, nên bus hệ thống của BXL là 400 MHz.

P4 Northwood. Xuất hiện vào tháng 1 năm 2002, được sản xuất trên công nghệ 0,13 µm, có khoảng 55 triệu transistor, bộ nhớ đệm tích hợp L2 512 KB, socket 478. Northwood có 3 dòng gồm Northwood A (system bus 400 MHz), tốc độ 1,6, 1,8, 2,0, 2,2, 2,4, 2,5, 2,6 và 2,8 GHz. Northwood B (system bus 533 MHz), tốc độ 2,26, 2,4, 2,53, 2,66, 2,8 và 3,06 GHz (riêng 3,06 GHz có hỗ trợ công nghệ siêu phân luồng Hyper Threading – HT). Northwood C (system bus 800 MHz, tất cả hỗ trợ HT), gồm 2,4, 2,6, 2,8, 3,0, 3,2, 3,4 GHz.

P4 Prescott (năm 2004). Là BXL đầu tiên Intel sản xuất theo công nghệ 90 nm, kích thước vi mạch giảm 50% so với P4 Willamette. Điều này cho phép tích hợp nhiều transistor hơn trên cùng kích thước (125 triệu transistor so với 55 triệu transistor của P4 Northwood), tốc độ chuyển đổi của transistor nhanh hơn, tăng khả năng xử lý, tính toán. Dung lượng bộ nhớ đệm tích hợp L2 của P4 Prescott gấp đôi so với P4 Northwood (1MB so với 512 KB). Ngoài tập lệnh MMX, SSE, SSE2, Prescott được bổ sung tập lệnh SSE3 giúp các ứng dụng xử lý video và game chạy nhanh hơn. Đây là giai đoạn “giao thời” giữa socket 478 – 775LGA, system bus 533 MHz – 800 MHz và mỗi sản phẩm được đặt tên riêng khiến người dùng càng bối rối khi chọn mua.

Prescott A (FSB 533 MHz) có các tốc độ 2,26, 2,4, 2,66, 2,8 (socket 478), Prescott 505 (2,66 GHz), 505J (2,66 GHz), 506 (2,66 GHz), 511 (2,8 GHz), 515 (2,93 GHz), 515J (2,93 GHz), 516 (2,93 GHz), 519J (3,06 GHz), 519K (3,06 GHz) sử dụng socket 775LGA.

Prescott E, F (năm 2004) có bộ nhớ đệm L2 1 MB (các phiên bản sau được mở rộng 2 MB), bus hệ thống 800 MHz. Ngoài tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3 tích hợp, Prescott E, F còn hỗ trợ công nghệ siêu phân luồng, một số phiên bản sau có hỗ trợ tính toán 64 bit.

Dòng sử dụng socket 478 gồm Pentium 4 HT 2.8E (2,8 GHz), 3.0E (3,0 GHz), 3.2E (3,2 GHz), 3.4E (3,4 GHz). Dòng sử dụng socket 775LGA gồm Pentium 4 HT 3.2F, 3.4F, 3.6F, 3.8F với các tốc độ tương ứng từ 3,2 GHz đến 3,8 GHz, Pentium 4 HT 517, 520, 520J, 521, 524, 530, 530J, 531, 540, 540J, 541, 550, 550J, 551, 560, 560J, 561, 570J, 571 với các tốc độ từ 2,8 GHz đến 3,8 GHz.

BXL Celeron

BXL Celeron được thiết kế với mục tiêu dung hòa giữa công nghệ và giá cả, đáp ứng các yêu cầu phổ thông như truy cập Internet, Email, chat, xử lý các ứng dụng văn phòng.

Celeron Willamette 128 (2002), bản “rút gọn” từ P4 Willamette, sản xuất trên công nghệ 0,18 µm, bộ nhớ đệm L2 128 KB, bus hệ thống 400 MHz, socket 478. Celeron Willamette 128 hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2. Một số BXL thuộc dòng này như Celeron 1.7 (1,7 GHz) và Celeron 1.8 (1,8 GHz).

Celeron NorthWood 128, “rút gọn” từ P4 Northwood, công nghệ 0,13 µm, bộ nhớ đệm tích hợp L2 128 KB, bus hệ thống 400 MHz, socket 478. Celeron NorthWood 128 cũng hỗ trợ các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, gồm Celeron 1.8A, 2.0, 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8 tương ứng với các tốc độ từ 1,8 GHz đến 2,8 GHz.

Celeron D (Presscott 256), được xây dựng từ nền tảng P4 Prescott, sản xuất trên công nghệ 90nm, bộ nhớ đệm tích hợp L2 256 KB (gấp đôi dòng Celeron NorthWood), bus hệ thống 533 MHz, socket 478 và 775LGA. Ngoài các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, Celeron D hỗ trợ tập lệnh SSE3, một số phiên bản sau có hỗ trợ tính toán 64 bit. Celeron D gồm 310, 315, 320, 325, 325J, 326, 330, 330J, 331, 335, 335J, 336, 340, 340J, 341, 345, 345J, 346, 350, 351, 355 với các tốc độ tương ứng từ 2,13 GHz đến 3,33 GHz.

Bạn đọc có thể tham khảo các thông số kỹ thuật từng BXL tại http://processorfinder.intel.com/list.aspx?ProcFam=483#

Pentium 4 Extreme Edition

Pentium 4 Extreme Edition (P4EE) xuất hiện vào tháng 9 năm 2003, là BXL được Intel “ưu ái” dành cho game thủ và người dùng cao cấp. P4EE được xây dựng từ BXL Xeon dành cho máy chủ và trạm làm việc. Ngoài công nghệ HT “đình đám” thời bấy giờ, điểm nổi bật của P4EE là bổ sung bộ nhớ đệm L3 2 MB. Phiên bản đầu tiên của P4 EE (nhân Gallatin) sản xuất trên công nghệ 0,13 µm, bộ nhớ đệm L2 512 KB, L3 2 MB, bus hệ thống 800 MHz, sử dụng socket 478 và 775LGA, gồm P4 EE 3.2 (3,2 GHz), P4 EE 3.4 (3,4 GHz).

BXL 64 BIT, VI KIẾN TRÚC NETBURST

P4 Prescott (năm 2004)

Vi kiến trúc NetBurst 64 bit (Extended Memory 64 Technology – EM64T) đầu tiên được Intel sử dụng trong BXL P4 Prescott (tên mã Prescott 2M). Prescott 2M cũng sử dụng công nghệ 90 nm, bộ nhớ đệm L2 2 MB, bus hệ thống 800 MHz, socket 775LGA. Ngoài các tập lệnh MX, SSE, SSE2, SSE3, công nghệ HT và khả năng tính toán 64 bit, Prescott 2M (trừ BXL 620) có hỗ trợ công nghệ Enhanced SpeedStep để tối ưu tốc độ làm việc nhằm tiết kiệm điện năng. Các BXL 6×2 có thêm công nghệ ảo hóa (Virtualization Technology). Prescott 2M có một số tốc độ như P4 HT 620 (2,8 GHz), 630 (3,0 GHz), 640 (3,2 GHz), 650 (3,4 GHz), 660, 662 (3,6 GHz) và 670, 672 (3,8 GHz).

Prescott Cedar Mill (năm 2006) hỗ trợ các tập lệnh và tính năng tương tự Prescott 2M nhưng không tích hợp Virtualization Technology. Cedar Mill được sản xuất trên công nghệ 65nm nên tiêu thụ điện năng thấp hơn, tỏa nhiệt ít hơn các dòng trước, gồm 631 (3,0 GHz), 641 (3,2 GHz), 651 (3,4 GHz) và 661 (3,6 GHz).

Pentium D (năm 2005)

Pentium D (tên mã Smithfield, 8xx) là BXL lõi kép (dual core) đầu tiên của Intel, được cải tiến từ P4 Prescott nên cũng gặp một số hạn chế như hiện tượng thắt cổ chai do băng thông BXL ở mức 800 MHz (400 MHz cho mỗi lõi), điện năng tiêu thụ cao, tỏa nhiều nhiệt. Smithfield được sản xuất trên công nghệ 90nm, có 230 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 2 MB (2×1 MB, không chia sẻ), bus hệ thống 533 MHz (805) hoặc 800 MHz, socket 775LGA. Ngoài các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, Smithfield được trang bị tập lệnh mở rộng EMT64 hỗ trợ đánh địa chỉ nhớ 64 bit, công nghệ Enhanced SpeedStep (830, 840). Một số BXL thuộc dòng này như Pentium D 805 (2,66 GHz), 820 (2,8 GHz), 830 (3,0 GHz), 840 (3,2 GHz).

Cùng sử dụng vi kiến trúc NetBurst, Pentium D (mã Presler, 9xx) được Intel thiết kế mới trên công nghệ 65nm, 376 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 4 MB (2×2 MB), hiệu năng cao hơn, nhiều tính năng mới và ít tốn điện năng hơn Smithfield. Pentium D 915 và 920 tốc độ 2,8 GHz, 925 và 930 (3,0GHz), 935 và 940 (3,2 GHz), 945 và 950 (3,4 GHz), 960 (3,6GHz). Presler dòng 9×0 có hỗ trợ Virtualization Technology.

Pentium Extreme Edition (năm 2005)

BXL lõi kép dành cho game thủ và người dùng cao cấp. Pentium EE sử dụng nhân Smithfield, Presler của Pentium D trong đó Smithfield sử dụng công nghệ 90nm, bộ nhớ đệm L2 được mở rộng đến 2 MB (2×1 MB), hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, công nghệ HT, Enhanced Intel SpeedStep Technology (EIST) và EM64T. Pentium 840 EE (3,20 GHz, bus hệ thống 800 MHz, socket 775LGA) là một trong những BXL thuộc dòng này.

Pentium EE Presler sử dụng công nghệ 65 nm, bộ nhớ đệm L2 được mở rộng đến 4 MB (2×2 MB), hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, công nghệ HT, Enhanced Intel SpeedStep Technology (EIST), EM64T và Virtualization Technology. Một số BXL thuộc dòng này là Pentium EE 955 (3,46GHz) và Pentium EE 965 (3,73GHz) có bus hệ thống 1066 MHz, socket 775.

BXL 64bit, kiến trúc Core

Tại diễn đàn IDF đầu năm 2006, Intel đã giới thiệu kiến trúc Intel Core với năm cải tiến quan trọng là khả năng mở rộng thực thi động (Wide Dynamic Execution), tính năng quản lý điện năng thông minh (Intelligent Power Capability), chia sẻ bộ nhớ đệm linh hoạt (Advanced Smart Cache), truy xuất bộ nhớ thông minh (Smart Memory Access) và tăng tốc phương tiện số tiên tiến (Advanced Digital Media Boost). Những cải tiến này sẽ tạo ra những BXL mạnh hơn, khả năng tính toán nhanh hơn và giảm mức tiêu thụ điện năng, tỏa nhiệt ít hơn so với kiến trúc NetBurst. Tham khảo chi tiết kiến trúc Core trong bài viết “Intel Core vi kiến trúc hai nhân chung đệm”, ID: A0605_124.

Intel Core 2 Duo

BXL lõi kép sản xuất trên công nghệ 65 nm, hỗ trợ SIMD instructions, công nghệ Virtualization Technology cho phép chạy cùng lúc nhiều HĐH, tăng cường bảo vệ hệ thống trước sự tấn công của virus (Execute Disable Bit), tối ưu tốc độ BXL nhằm tiết kiệm điện năng (Enhanced Intel SpeedStep Technology), quản lý máy tính từ xa (Intel Active Management Technology). Ngoài ra, còn hỗ trợ các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, SSSE3.

Core 2 Duo (tên mã Conroe) có 291 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 4 MB, bus hệ thống 1066 MHz, socket 775LGA. Một số BXL thuộc dòng này: E6600 (2,4 GHz), E6700 (2,66 GHz). Core 2 Duo (tên mã Allendale) E6300 (1,86 GHz), E6400 (2,13 GHz) có 167 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 2MB, bus hệ thống 1066 MHz, socket 775LGA. E4300 (1,8 GHz) xuất hiện năm 2007 có bộ nhớ đệm L2 2 MB, bus 800 MHz, không hỗ trợ Virtualization Technology.

Core 2 Extreme

BXL lõi kép dành cho game thủ sử dụng kiến trúc Core, có nhiều đặc điểm giống với BXL Core 2 như công nghệ sản xuất 65 nm, hỗ trợ các công nghệ mới Enhanced Intel SpeedStep Technology, Intel x86-64, Execute Disable Bit, Intel Active Management, Virtualization Technology, Intel Trusted Execution Technology… các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, SSSE3.

Core 2 Extreme (tên mã Conroe XE) (tháng 7 năm 2006) với đại diện X6800 2,93 Ghz, bộ nhớ đệm L2 đến 4 MB, bus hệ thống 1066 MHz, socket 775LGA.
Cuối năm 2006, con đường phía trước của BXL tiếp tục rộng mở khi Intel giới thiệu BXL 4 nhân (Quad Core) như Core 2 Extreme QX6700, Core 2 Quad Q6300, Q6400, Q6600 và BXL 8 nhân trong vài năm tới. Chắc chắn những BXL này sẽ thỏa mãn nhu cầu người dùng đam mê công nghệ và tốc độ.

pcworld

Phần III: Kiểm tra và xử lý

Phần I: Các chuẩn kết nối ổ cứng
Phần II: Cài đặt ổ cứng vào hệ thống

Sau khi cài đặt ổ cứng vào hệ thống, ta cần kiểm tra lại để chắc chắn rằng ổ cứng sẽ hoạt động tốt và thực hiện xử lý các sự cố phát sinh khi cài đặt.

Với ổ cứng mới cài đặt, bạn khởi động lại hệ thống và nhìn vào màn hình POST (màn hình đầu tiên hiển thị khi khởi động máy tính), sẽ hiển thị tên ổ cứng bao gồm: nhà sản xuất và model của ổ cứng. Nếu bạn cài đặt ổ cứng SATA, có thể nó sẽ được hiển thị ở một giao diện màn hình khác kế tiếp trong giai đoạn boot máy.

Nếu không thấy ổ cứng được hiển thị và hệ thống đang sử dụng phiên bản Windows 2000 hoặc XP, bạn khởi động lại máy (restart). Sau đó, vào tiếp Windows Explorer, phải chuột lên My computer, chọn Manage. Trong cửa sổ quản lý, chọn “Disk Management” và kiểm tra ở khung bên bên phải, phía trên xem ổ cứng có được nhận diện hay không. Nếu là ổ cứng thứ hai được cài đặt bổ sung, thì nó sẽ được nhận dạng với tên “Disk 1” và “Disk 2” nếu là ổ cứng thứ ba cùng với đầy đủ dung lượng của mỗi partition, mỗi ổ cứng.

Trường hợp hệ thống không sử dụng phiên bản hệ điều hành Windows 2000/XP và cần xác nhận ổ cứng mới đã được cài đặt chính xác. Khởi động lại máy (reboot) và nhấn phím DEL tại giao diện khởi động đầu tiên (POST screen) để vào phần cấu hình BIOS. Tuỳ thuộc vào model bo mạch chủ mà nó sẽ tự động dò tìm ổ cứng và hiển thị ổ cứng đang ở Master, Slave. Khi hiển thị ra đầy đủ dung lượng và tên cùng model ổ cứng là bạn đã cài đặt ổ cứng thành công.


Disk Management trong My Computer.


Giao diện bên trong BIOS.

Tuy nhiên, cũng có những lúc công việc cài đặt trở nên khó khăn hơn vì bạn đã thử hết các thao tác trên mà hệ thống vẫn không nhận dạng được ổ cứng mới cài đặt. Đừng vội nản lòng, bạn hãy thử các bước sau để kiểm tra lại thao tác của cài đặt của mình:

1. Nếu ổ cứng không hiển thị trong giao diện POST khi khởi động hệ thống hoặc cũng không hiển thị trong phần “Disk Management” thì ta trở về bước đầu tiên. Bạn ngắt hết nguồn điện của hệ thống và kiểm tra lại thiết lập jumper xem có chính xác hay chưa (đối với ổ cứng IDE). Bước kế tiếp là kiểm tra đến kết nối cáp như đã nêu ở phần I và II xem có chính xác hay không, đặc biệt là kết nối cáp cho ổ cứng IDE.

Lưu ý: Các ổ cứng SATA không hẳn lúc nào cũng hiển thị trong BIOS, còn tuỳ thuộc vào nhà sản xuất của bo mạch chủ và cách thức SATA hỗ trợ, ngay cả khi nó được cài đặt chính xác. Điều này không có nghĩa là nó sẽ không hoạt động, chỉ có điều bạn không thể xác nhận việc cài đặt mà không cần đến Windows. Cách thức duy nhất là bạn thực hiện cài đặt Windows.

2. Nếu ổ cứng hiển thị trong BIOS và Windows nhưng lại không hiển thị đúng dung lượng. Ví dụ chỉ hiển thị 20GB thay vì 40GB thì đây là giới hạn của bo mạch chủ. Những bo mạch chủ đời cũ (được sản xuất từ 4 năm trở về trước) sẽ có những giới hạn nhất định về việc nhận dạng dung lượng ổ đĩa cứng. Đôi khi, việc cập nhật phiên bản mới cho BIOS sẽ giải quyết được vấn đề này, nhưng không khả thi đối với những bo mạch chủ có model quá cũ.

Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể truy cập vào website của hãng sản xuất ổ đĩa cứng. Thông thường, tất cả nhà sản xuất sẽ có những phần mềm, tiện ích miễn phí hỗ trợ giải quyết các sự cố, vấn đề liên quan đến ổ cứng mà họ sản xuất. Ví dụ Maxblast 4 của Maxtor. Mục đích của các tiện ích này là kích hoạt khả năng nhận dạng dung lượng cao hơn giới hạn của những bo mạch chủ model cũ. Tiện ích cũng sẽ phân chia partition và định dạng (format) ổ cứng cho bạn.

Những hiểu biết cơ bản và các bước cài đặt cũng như kiểm tra đã được lược qua, công việc của bạn bây giờ là đưa ổ cứng mới cài đặt bổ sung vào sử dụng hoặc cài đặt hệ điều hành. Khi sử dụng, bạn chỉ nên chú ý đến các yếu tố quan trọng nhất là nhiệt độ, hãy để hệ thống luôn thoáng mát, trong khoảng 3-4 tháng, hãy thực hiện chống phân mảnh dữ liệu để việc truy xuất dữ liệu được thực hiện dễ dàng hơn.

QTM

Một máy tính, nhiều người dùng cùng lúc


(VietNamLab) – Chỉ có một chiếc máy vi tính nhưng vài ba người có thể sử dụng độc lập cùng lúc – với bàn phím, con chuột và màn hình riêng, chạy những ứng dụng khác nhau. Giải pháp vô cùng tiết kiệm này có thể được thực hiện thông qua một bộ phận gọi là MUPC (Multi Users PC), thực chất là một card PCI tích hợp sẵn chip đồ họa. Ngày nay, rất nhiều gia đình đã có sở hữu ít nhất một máy vi tính. Các thành viên trong gia đình có thể luân phiên sử dụng máy nhờ vào tính năng multiuser trong hệ điều hành của Microsoft (Windows 2000, NT, XP…). Nhưng điều đó là không thể đối với các công ty thiết kế đồ họa, công ty gia công phần mềm… khi mà các nhân viên đều phải làm việc cùng một lúc. Như vậy nhà quản lý phải đầu tư cho mỗi nhân viên một máy tính bao gồm cả CPU, RAM, HDD, màn hình… và thậm chí cả bản quyền phần mềm cho mỗi máy. Chi phí khổng lồ ấy có thể được giảm đáng kể từ 2 đến 5 lần nếu nhà quản trị sử dụng MUPC

MUPC là một thiết bị cho phép tạo thêm một “máy tính thứ hai” cho phép 2 người dùng trở lên có thể làm việc cùng lúc. Thiết bị thực chất là một card PCI tích hợp sẵn chip đồ họa (hiện có loại 8 MB và 32 MB). Khi cắm card này vào một chiếc máy tính (đầy đủ bộ phận, gọi là máy 1), sau đó cắm màn hình vào cổng VGA của card này, nhờ một phần mềm đi kèm theo thiết bị, cả 2 người dùng có thể đăng nhập với 2 user khác nhau và sử dụng máy tính độc lập cùng lúc. Dĩ nhiên bạn cần thêm con chuột và bàn phím cho “máy tính thứ hai”, được nối vào máy 1 thông qua một thiết bị chuyển USB tạo ra 2 đầu P/S2. Cứ mỗi user cần một bộ MUPC – bàn phím – chuột để tạo “máy tính thứ ba”, “máy tính thứ tư”…, rồi dùng phần mềm dành cho thiết bị để quy định bộ bàn phím và chuột nào sẽ dùng cho máy tính nào. Ngoài ra bạn có thể gắn thêm USB sound card, webcam cho mỗi user.

Có những loại MUPC nào?

Hiện trên trang web www.truongthanhco.com có giới thiệu 4 mẫu MUPC: MUPC-lite box (loại 8 MB và loại 32 MB), MUPC – premium box (loại 8 MB và loại 32 MB), ngoài ra còn có MUPC-lite tray giá rẻ hơn so với loại box. Sự khác biệt giữa MUPC-lite và MUPC-premium là sự có mặt của MUPC terminal box trong bộ MUPC-premium. MUPC terminal box đã tích hợp sẵn các cổng USB, P/S2, soundcard, vì thế bạn không phải lo máy tính thiếu cổng USB cho nhiều user.

Số lượng user – đâu là giới hạn?

Máy tính nhiều user sử dụng đồng thời sẽ rất tốn tài nguyên máy (CPU, RAM, HDD), tốc độ máy tính có thể chậm đi đáng kể nếu nhiều người dùng cùng sử dụng các chương trình nặng như Autocad, Photoshop… Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của phần cứng máy tính trong mấy năm trở lại đây, vấn đề trên không còn phải bận tâm nhiều. Người dùng đã có thể dễ dàng mua được máy tính lõi kép, RAM cực lớn với chi phí không quá cao. Trong khi đó yêu cầu cho máy tính 4 user tối thiểu là Celeron 900 MHz, RAM 384 MB hay cấu hình ổn định là Pentium 4 1.4GHz, RAM 512 MB (theo www.truongthanhco.com). Như vậy đâu là giới hạn về số lượng user? Theo quảng cáo, có thể tạo từ 2 đến 7 user, nhưng nên nhớ mainboard bây giờ đa số chỉ có 3 khe PCI, hiếm hoi lắm mới bắt gặp loại có 5 khe PCI, nguyên nhân là do các nhà sản xuất mainboard đã thay một số khe PCI bằng PCI Express.

Tiết kiệm được những gì từ MUPC?

Dễ dàng nhận ra nhất là chi phí mua máy, thay vì bỏ ra khoảng 250 – 350 USD cho một case với cả mainboard, CPU, RAM, HDD…, giờ chỉ phải đầu tư 48 – 85 USD cho một bộ MUPC. Ngoài ra, chi phí bảo trì nâng cấp cũng tiết kiệm được khi chỉ phải chăm sóc cho 1 máy thay vì 4 máy như trước đây. Chi phí phần mềm sẽ chỉ còn 25% so với trước. Thêm vào đó là chi phí điện giảm được khoảng 300 W cho mỗi user tạo thêm.

Cuối cùng, nếu bạn muốn sử dụng MUPC, thì nên chọn một bộ nguồn tốt để không gặp tình huống máy tính tự khởi động bất thình lình (do thiếu công suất) sẽ ảnh hưởng đến các user khác

Làm gì khi Folder Options, TaskManager, Regedit bị mất
– Khi máy tính bị nhiễm một số loại virus hoặc thậm chí sau khi đã diệt sạch virus, bạn không tìm thấy hàng chữ Folder Options trong menu Tools của cửa sổ My Computer (hoặc Windows Explorer). Cũng như hàng chữ Task Manager bị mờ đi trong menu hiện ra khi bấm chuột phải lên thanh taskbar, đồng thời bấm Start > Run, gõ regedit thì không chạy được. Để có lại ba thành phần này, bạn thực hiện các cách sau:

Khôi phục Folder Options

Bạn bấm Start > Run, gõ gpedit.msc rồi bấm Enter. Ở cửa sổ Group Policy hiện ra, trong khung bên trái, lần lượt bấm dấu cộng (+) trước các hàng chữ: User Configuration; Administrative Templates; Windows Components; bấm chuột lên hàng chữ Windows Explorer; bấm đúp chuột lên hàng chữ Remove the Folder Options menu item from the Tools menu, bấm chọn Disable ở cửa sổ hiện ra và bấm OK.

Nếu vẫn chưa thấy Folder Options xuất hiện trong menu Tools, bạn thực hiện lại 2 lần thao tác trên: Chọn Enable ở lần thứ nhất và Disable ở lần thứ hai.

Khôi phục Task Manager

Trong khung bên trái của cửa sổ Group Policy nói trên, bạn cũng lần lượt bấm dấu cộng (+) trước các hàng chữ: User Configuration, Administrative Templates, System, Ctrl+Alt+Del Options. Bấm đúp chuột lên hàng chữ Remove Task Manager trong khung bên trái, bấm chọn Disable ở cửa sổ hiện ra, bấm OK.

Nếu Task Manager vẫn bị mờ hoặc thấy cửa sổ Windows Task Manager chỉ chớp lên khi bấm tổ hợp 3 phím Ctrl + Alt + Del, bạn thực hiện lại thao tác trên với lựa chọn Enable và Disable như ở phần Folder Options.

Khôi phục lệnh Regedit

Trong cửa sổ Group Policy, bạn lần lượt bấm dấu cộng (+) trước các hàng chữ: User Configuration, Administrative Templates, System. Bấm đúp chuột lên hàng chữ Prevent access to registry editing tools trong khung bên trái, bấm chọn Disable ở cửa sổ hiện ra, bấm OK. Có thể bạn cũng sẽ phải thực hiện lại như khi khôi phục Folder Options, Task Manager để chạy được lệnh này.

Sau khi khôi phục 3 thành phần trên, bạn khởi động lại máy tính. Nếu chúng tiếp tục bị mất là máy tính của bạn vẫn còn bị nhiễm virus. Do vậy, bạn tiếp tục cập nhật chương trình diệt virus đang dùng hoặc cài chương trình diệt virus khác để quét toàn bộ đĩa cứng và đĩa flash USB.

VietNamLab

Mẹo phân biệt USB hàng ”nhái”

Giảm giá chỉ còn 25 – 50% so với trước đây, USB đang là đồ phụ kiện máy tính đắt khách. Tuy nhiên hàng nhái, kém chất lượng nhưng bề ngoài y chang hàng thật cũng rất dễ bị nhầm lẫn.

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

Hiếm hàng chính hãng

Từ cuối năm 2006, khi các nhà sản xuất giảm mạnh giá thành USB, thị trường của thiết bị lưu trữ mini này sôi động hơn hẳn. Không những thế, USB với nhiều kiểu dáng, màu sắc và các loại dung lượng khiến người mua tha hồ lựa chọn.

Tuy nhiên theo nhận định của anh Nguyễn Đức Thịnh, một nhân viên kinh doanh mặt hàng này thì hàng chính hãng USB đang khá hiếm dù cho thị trường của nó đang rất phong phú và muôn màu, muôn vẻ.

Nguyên nhân chính là sự chiếm lĩnh ngày càng hùng mạnh của USB “nhái” kém chất lượng nhưng mẫu mã y như hàng chính hãng.

Theo những người kinh doanh phụ kiện máy tính, USB “nhái” hàng Tàu rẻ hơn hàng chính hãng từ 3 – 5 USD, hình thức bao bì mẫu mã giống y hệt nhưng chất lượng là kém hơn hẳn. Để kiếm lời, không ít người bán hàng đã nhập loại hàng này về.

Phân biệt hàng thật, hàng giả

Dọc những con phố chuyên bán linh kiện, phụ kiện máy tính như Lý Nam Đế, Thái Hà, Lê Thanh Nghị, mặc dù các chủ cửa hàng đều cam đoan “hàng chính hãng đảm bảo chất lượng” nhưng quan sát kỹ ở một số hàng vẫn thấy USB “nhái” nằm điềm nhiên bên những USB “xịn”, rất khó phân biệt mà giá cả ngang nhau.

Anh Phạm Quốc Cường, nhân viên bán hàng có kinh nghiệm của một công ty máy tính ở Hà Nội chia sẻ cách phân biệt “trắng đen” hàng USB: “USB hay được làm nhái nhất các hãng Adata Jorg, Kingston, Transcend vì những loại này thông dụng và được người tiêu dùng biết đến hơn cả.

USB chính hãng có serial của nhà sản xuất, trước kia serial được dán bằng giấy bóng lên sản phẩm nhưng hiện tại một số hãng đã dập thẳng code bằng mực chống nhòa lên sản phẩm, trong khi đó, hàng “nhái” thường không có serial, thông số.

Đối với USB của hãng Adata Jorg, hàng thật có vỏ bọc nhựa bên ngoài liền khối trong khi hàng nhái là 2 mảnh ghép nối rời, màu đậm hơn.

Đối với USB của hãng Kingston, khách hàng cần chú ý đến viền của chúng. Tất cả đều thân trắng, không hỗ trợ đĩa drive cho Win 98. 128 MB viền đỏ, 256 MB viền xanh lá cây, 512 MB viền xanh tím than, 1 GB viền xám, 2 G viền xanh nõn chuối. Hàng nhái thường có viền khác màu hay có hỗ trợ đĩa drive”.

Sơ lược về Computer Management

Giới thiệu chung: Computer management là giao tiếp không những dùng để quản lý máy tính cục bộ, mà còn có thể quản lý những máy tính khác được điều khiển trong mạng. (ở đây khái niệm máy tính cục bộ được dịch từ Local computer, và máy được điều khiển trên mạng từ remote computer).

Để truy cập vào Computer management bạn có thể truy cập từ:

+ Control Panel -> Administrative tools -> Computer management

hoặc:

+ Click chuột phải vào My Computer -> chọn Manage

Cửa sổ Computer Management hiện ra dưới dạng một trình Explore khá quen thuộc. 3 mục chính trong Computer management là: System Tools, Storage và Services and Applications. Chúng ta sẽ xem sơ lược từng mục này.

Ghi chú: Bạn có thể quản lý một máy khác trong mạng bằng cách Click chuột phải vào Computer Management sau đó chọn Connect to another computer … và điền các thông tin cần thiết về tên máy, User và password truy cập. 

 System Tools

System tools dùng để quản lý những sự kiện làm việc của hệ thống với các mục nhỏ: Event Viewer, Shared Folders, Local Users and Groups, Performance Logs and Alerts overview, Device Manager.

1. Event Viewer:

Với Event Viewer ta có thể giám sát các hoạt động của các ứng dụng (Applications), bảo mật (Security) và các bản ghi của hệ thống (System logs).

+ Applicatrion logs chứ các sự kiện của các ứng dụng hay các chương trình. Các logs chứa trong mục này là: Information, Error, Warning, Success audit, Failure audit. Muốn xem một log bạn chỉ việc click 2 lần vào logs muốn xem, trong cửa sổ mới sẽ hiện ra sẽ chứa đầy đủ thông tin về ngày tháng, và một giải thích kèm theo.

Ví dụ:

Event Type: Information
Event Source: Winlogon
Event Category: None
Event ID: 1002
Date: 9/3/2006
Time: 6:56:05 PM
User: N/A
Computer: PAVO_LUSA
Description:
The shell stopped unexpectedly and Explorer.exe was restarted.

For more information, see Help and Support Center at http://go.microsoft.com/fwlink/events.asp.

Ở đây ta có thể biết được trình tiện ích đã bị Stop unexpectedly và Explorer.exe đã được khởi động lại (The shell stopped unexpectedly and Explorer.exe was restarted.), kèm theo thời gian xảy ra sự kiện.

Ghi chú: Khi mở cửa sổ Event properties bạn có thể Click nút mũi tên lên hoặc xuống để di chuyển tới sự kiện tiếp theo, và cũng có thể copy thông tin sự kiện vào clipboard rồi lưu vào một file text nào đấy.

– Để xuất tẩt cả các event ra một File text, *.CSV, hoặc *.evt bạn click chuột phải vào Application và chọn Save log file as….

– Số lượng event, sẽ phụ thuộc vào dung lượng bộ nhớ được quy định trong properties của Application. Bạn cũng có thể chọn lọc những event cần thiết và thay đổi các các thông tin khác ở trong properties.

+ Security log ghi lại thông tin trong quá trình logon, liên quan đến những tài nguyên như tạo, mở hay xoá file, thư mục,…

+ System log chứa những sự kiện những thành phần của Windows mà cụ thể là các service kèm theo.

Ta xem một ví dụ sau:

Event Type: Information
Event Source: Application Popup
Event Category: None
Event ID: 26
Date: 9/3/2006
Time: 2:37:32 PM
User: N/A
Computer: COMPUTER1
Description:
Application popup: Messenger Service : Message from COMPUTER1 to WorkGroup on 03.09.2006 14:37:32

Hello world

For more information, see Help and Support Center at http://go.microsoft.com/fwlink/events.asp.

Ở đây System log ghi lại sự kiện một message được gửi từ máy có tên COMPUTER1 đến WorkGroup với nội dung: Hello world.

Chú ý: Bên cạnh Application, Security, và System log, bạn có thể tạo thêm Log View với những tuỳ chọn (trong mục Filter) thích hợp cho riêng mình bằng cách chọn New Log View.

2. Shared Folders:

Trong mục này bạn có thể quản lý các thư mục các tài nguyên được share trên mạng với 3 mục con Shares, Sessions và Open Files.

+ Trong Shares hiển thị tất cả tài nguyên bạn đang share trên mạng. Bạn có thể dễ dàng ngắt share bằng cách chọn Stop sharing trong menu Action, hoặc thay đổi các thông số, quyền truy cập của user … trong mục properties.

+ Trong Sessions hiển thị những user đang truy cập vào tài nguyên trên máy bạn với những thông số về tên máy, số lượng files đang mở, thời gian truy cập,… chọn Dissconect session trong mục Action để ngắt truy cập.

+ Trong Open Files hiển thị chi tiết những file đang được truy cập.

3. Local Users and Groups:

Dùng để quản lý và phân quyền những User và những Group của máy tính.

+ Users: Bạn có thể tạo mới, thay đổi Group của User, hoặc set Password của User mà ko cần biết password cũ.

+ Tương tự, Groups dùng để quản lý và phân cấp các nhóm users.

4. Performance Logs and Alerts:

Trong mục này bạn có thể thu thập những thông tin một cách hoàn toàn tự động thông qua chương trình System Monitor hoặc xuất thông tin ra một file thích hợp (Text, CSV, SQL)

Ví dụ:

Trong mục Counter Log Tôi tạo một log mới có tên Memory để xem thông tin về bộ nhớ (bằng cách chọn New log setting…). Trong tab Memory hiện ra, chọn General, Add Objects để add mục Memory. Trong tab Log Files tôi chọn Binary File. File log sẽ được lưu vào: C:\PerfLogs\Memory.blg. Chọn Tab Schedule để thay đổi thông tin Start log, stop log,… ở đây tôi để default có nghĩa là máy sẽ thực hiện ngay cái log này. Bây giờ ta vào C:\PerfLogs\ và mở file Memory.blg lên, cửa sổ Performace xuất hiện với thông số về Memory được cập nhật liên tục. Ta cũng có thể tạo mới logs cho Cache, Paging file,…

Tương tự trong phần Trace logs với các thông tin về giao tiếp mạng. Mục Alerts cho phép bạn thiết lập một thông báo về một counter khi thông tin về counter vượt quá một giá trị cho phép nào đó.

5. Device Manager:

Dùng để quản lý các thiết bị phần cứng của máy tính: Update driver, Disable, Uninstall,… Có lẽ phần này không phải nói gì nhiều 

Storages

Storages cung cấp thông tin về những thiết bị lưu trữ đã được cài đặt trên máy bạn đang quản lý.

1. Removable Storage:

 Cung cấp thông tin về các thiết bị lưu trữ “có thể tháo lắp” được. Mục Media liệt kê những ổ đĩa đang hoạt động (đang chứa đĩa), mục Libraries liệt kê tất cả các thiết bị “removable storages” trong máy.

2. Disk Defragmenter:

Là trình tiện ích giảm phân mảnh trên các ổ đĩa. Trong vùng thông tin cụ thể phía bên phải của cửa sổ Computer management, bạn chọn ổ đĩa cần xem rồi chọn Analyze để xem thông tin về phân mảnh của ổ đĩa. Hoặc chọn Defragment để sắp xếp lại.

3. Disk Management:

Cung cấp những chức năng liên quan đến việc quản lý các ổ đĩa: Tạo Partitions, tạo một volume mới, format ổ đĩa hay thay đổi các ký tự chữ cái của ổ đĩa…

Lưu ý: Nếu bạn chưa thông thạo việc chia Partition hoặc tạo Volume mới thì không nên thử chức năng này. Nên đọc trước về nó một ít.

 Services and Applications

Services and Applications chứ những công cụ mặc định và những ứng dụng trên máy tính hiện tại.

Services:

Click đúp vào mỗi service, trong tab General chứa thông tin về service, và tóm tắt mô tả. Có 3 trạng thái Startup của service: Automatic, Manual và Disabled

Trong tab Log on sẽ cho phép service hiện tại hoạt động tuỳ theo các lựa chọn: Local System account, hoặc một account mà bạn chọn.

Trong tab Recovery xác lập hành động của máy tính nếu Service không chạy nữa.

Tab Dependencies hiển thị sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các Service.

Lưu ý: Một Service sẽ có thể có những service khác phụ thuộc vào sự hoạt động của nó hoặc bản thân service phụ thuộc hoạt động của những service khác. Bạn nên lưu ý mục Dependencies trong khi lựa chọn Startup type của các Service.

Có lẽ bao nhiêu đây đã đủ để các bạn có một cái nhìn sơ lược về Computer Management. Tuỳ theo từng phiên bản Windows khác nhau mà sẽ có thêm những mục khác ngoài những mục nêu trên.

Có gì sai sót xin nhờ các anh chị và các bạn bổ sung thêm cho bài viết được hoàn thiện.

(VietNamLab

Khắc phục lỗi dumping physical memory của Win XP


(VietNamLab) – Để khắc phục hiện tượng Windows XP tự dưng khởi động lại hay lỗi “dumping physical memory “ …. Lúc trước mày tôi không không thể cài được Win XP vì luôn bị cái lỗi này và sau một vài ngày thì không khởi động được , qua tìm hiểu từ nhiều trang nuớc ngoài và lòng say mê nên tôi tìm ra cách khắc phục và bây giờ Win XP chạy ngon lành như “con bò kéo xe” trên chiếc mày Pentium III cũ. Thay đổi kích thuớc file Swap

Khi máy bạn gặp một trục trặc nghiêm trọng thì hệ thống sẽ tự động lưu lại trạng thái hiện thời vào một file có tên là Swap để có thể phục hồi sau này . Tuy nhiên nó cũng gây một số phiền phức hơn là nó đem lại lợi ích.

1. Bấm vào nút Start

2. Bấm phải vào My computer sau đó bấm vào properties

3. Sau đó chọn tab Advanced ,sau đó bấm vào Setting của tuỳ chọn Performance , nó sẽ xuất hiện hiện một bảng mới để bạn có thể thay đồi kích thuớc của file ảo.

4. Sau đó thay đổi Initial Size và Maximum Size.

5. Bạn hãy để hai giá trị này bằng nhau (có thể cho giá trị bằng với kích thước Ram của máy bạn hiện có)

6. Sau đó bấm vào nút Set , hệ thống sẽ yêu cầu bạn restart lại , sau đó bạn OK tất cả rồi restart lại

Xoá Minidump files và Sysdata.xml

1. Bạn tìm đến thự mục c:WindowsMinidump directory và sau đó xoá tất cả những gì bạn thấy trong thư mục này (Bạn phải chọn chế độ “Show hidden files “ )

2. Bạn tiếp tục tìm đến thư mục C:\ Documents and Settings folder sau đó search tìm fileSysdata.xml … sau đó xoá file bạn vừa tìm thấy

3. Sau đó Restart lại máy một lần nữa .

Xoá bỏ chế độ Auto Restart của Win XP

1. Bấm chuột phải vào My computer , sau đó chọn Properties

2. Chọn Advanced tab , sau đó bấm vào nút Setting của tuỳ chọn Start-up and Recovery

3. Sau đó bạn bỏ tuỳ chon Automatically Restart , rồi bấm OK

Máy bạn sẽ không bao giờ tự động Restart lại nữa .

Vô hiệu Memory Dump

1. Bấm chuột phải vào My computer , sau đó chọn Properties

2. Chọn Advanced tab , sau đó bấm vào nút Setting của tuỳ chọn Start-up and Recovery

3. Tại tab Write debugging information sau đó chọn (none) , rồi bấm Ok

4. Ok một lần nữa …

Máy tính của bạn sẽ không bao giờ bị lỗi “Dumping Phisical Memery”

Giữ những file nhân của Windows XP trong bộ nhớ RAM

Một phần những file nhân của Windows XP lưu trữ kiểu PageFiles nằm trên ổ cứng , điều đó có thể làm cho tốc độ hệ thống giảm đi , bạn có thể chỉ lưu giữ những file này trong RAM để hệ thống xử lí nhanh hơn ( với điều kiện bộ nhớ RAM máy tính của bạn đủ lớn ) . Cách thức như sau :  

1. Bấm Start –> chọn Run –> gõ Regedit –> bấm OK

 

2. Bạn tìm theo đường dẫn sau :

 

 

HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Session Manager\MemoryManagement

 

3. Bạn đổi DisablePagingExecutive  thành giá trị là 1

 

4. Khởi động lại máy tính

 

So sánh Core 2 Duo và Core Duo


 

Trong lúc Core Duo vừa ra đời, thì ngay lập tức sau đó Core 2 Duo cũng được giới thiệu. Có người đặt ra câu hỏi: phải chăng Core 2 Duo là phiên bản sửa lỗi gì đó cho Core Duo? Câu hỏi này cũng có lý, vì thường thì thời gian giới thiệu và sử dụng dòng chip mới phải diễn ra khá lâu, sau đó mới có dòng chip tiếp theo được dùng rộng rãi hơn… hay vì tốc độ phát triển của công nghệ nhanh hơn bình thường, vì vậy mà việc xuất hiện Core 2 Duo đã khiến chúng ta băn khoăn không rõ nguyên nhân. Hy vọng rằng tổng hợp từ bài viết này sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu được phần nào nguyên nhân sâu xa của nó.

Thực sự bên cạnh những nguyên nhân về cạnh tranh với các dòng chip Turion 64 và Turion 64 X2 của AMD, thì việc xuất hiện dòng Core 2 Duo được Intel giải thích đơn giản hóa bằng 02 câu hỏi: “how much more perfomance are we getting?” và “what happens to battery life?”. Chỉ với 02 câu hỏi này thôi, nhưng nó giúp cho chúng ta có những quyết định đúng đắn khi mua máy tính cần thiết phải là Core 2 Duo hay chỉ cần Core Duo là đủ? Còn câu hỏi về lỗi thiết kế, có lẽ chỉ là một quan điểm cá nhân chưa có bằng chứng gì xác thực.

Trước khi có thể tìm hiểu chi tiết về Core 2 Duo, có lẽ không thừa nếu chúng ta quay lại một chút về kiến trúc cũ của dòng chip trước đó Centrino.

Một nhà sản xuất máy tính có thể gọi máy của họ là Centrino hoặc Centrino Duo nếu nó đáp ứng đủ yêu cầu sau: 

  CPU Chipset Networking
Centrino

Intel Core Solo or Pentium M

Mobile Intel 945 GM/PM/GMS

Intel PRO/Wireless 3945ABG

Centrino Duo

Intel Core Duo or Core 2 Duo

Mobile Intel 945 GM/PM/GMS

Intel PRO/Wireless 3945ABG

Như vậy, nhãn hiệu Centrino và Centrino Duo đã được Intel đầu tư rất nhiều tiền của để tiếp tục thống lĩnh thị trường CPU của máy tính. Theo kiến trúc này, thì một nền tảng Centrino hoặc Centrino Duo đòi hỏi nhà sản xuất phải mua ít nhất 03 thành phần của Intel (CPU, Chipset và Networking) thay vì chỉ 1. Như vậy mới thấy rằng tại sao AMD nhất định tham gia thị trường chipset bằng cách mua lại ATI. 

Điều quan trọng là Centrino Duo có thể dùng Core Duo hoặc Core 2 Duo mà không phải thay đổi, chỉnh sửa thiết kế nếu bạn muốn dùng chip Core Duo hay Core 2 Duo trong máy của mình. Tuy nhiên, nếu bạn nâng cấp hệ thống, phải chú ý vì có một số vấn đề do tính tương thích của dòng chip mới so với chipset cũ, bảng sau đây cho biết chi tiết thông tin:

 CPU 945GM 945GMS 945PM 940GML
Core 2 Duo

Supported

Not Supported

Supported

Not Supported

Low Voltage Core 2 Duo

Supported

Supported

Supported

Not Supported

Ultra Low Voltage Core 2 Duo

Supported

Supported

Supported

Not Supported

Phần I: Cơ bản về lỗi “màn hình xanh” trong Windows

Đối với người dùng Windows 98 ngày trước và cả những phiên bản Windows 2000/XP, “màn hình xanh” không phải là điều xa lạ.

Màn hình xanh đem lại “điềm xấu” cho cả phần cứng lẫn phần mềm trên hệ thống của bạn. Tuy nhiên, cũng có thể nhận biết và xử lý khi gặp “màn hình xanh chết chóc” này.

“Màn hình xanh chết chóc” hay “Blue Screen Of Death” (BSOD) là thuật ngữ dùng để diễn tả về việc ngưng trệ toàn bộ hoạt động của hệ thống và xuất hiện màn hình thông báo lỗi có màu xanh dương, với những dòng chữ “khó hiểu” thông báo các lỗi (Ví dụ: FILE_SYSTEM, 0x00000022).

Lỗi có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau như: trục trặc về driver thiết bị, bộ nhớ bị lỗi, registry hư hỏng… và nếu may mắn, hệ thống sẽ tự sửa chữa lại sau khi reboot hệ thống. Tuy nhiên, lỗi “màn hình xanh” thường gây ra cảm giác bất an của ngày cận kề “cái chết” của hệ thống. Do đó, việc tự khám phá và khắc phục chúng là rất quan trọng.

Lỗi “màn hình xanh” xuất hiện khi Windows tìm thấy một lỗi hoặc một vấn đề hỏng hóc nào đó (phần cứng lẫn phần mềm) mà nó không thể khắc phục được. Ngay lập tức Windows sẽ ngưng toàn bộ hoạt động, tiến hành chẩn đoán thông tin “bệnh” của hệ thống và hiển thị màn hình xanh. Trong phiên bản Windows XP thì những nội dung của bộ nhớ PC được kết xuất vào một tập tin để có thể phân tích về sau.

Đọc “màn hình xanh” (BSOD)

Một lỗi màn hình xanh thông thường trong Windows XP được chia làm 4 phần và đôi khi chúng hiển thị những đầu mối dẫn đến việc phát sinh lỗi.

Phần kiểm tra hiển thị số lỗi với định dạng hệ thập lục phân (hexadecimal) và thông tin tại sao hệ thống xuất hiện BSOD, theo ví dụ là: “DRIVER_IRQI_NOT_LESS_OR_EQUAL“.

Phần thứ 2 là phần khuyến cáo người dùng nên làm gì khi gặp lỗi BSOD. Tuy nhiên, đây chỉ là khuyến cáo chung để tham khảo các bước xử lý cho mọi lỗi phát sinh BSOD. Công đoạn khởi động lại hệ thống (reboot) luôn là cách thức đầu tiên và tốt nhất để thoát khỏi màn hình xanh.

Phần thứ 3, thông tin driver, có thể hàm chứa những thông tin “sống còn”. Nếu thật sự tập tin driver có liên đới với màn hình xanh, nó sẽ được hiển thị tại phần này.

Phần thứ 4 cuối cùng của màn hình lỗi là cổng sửa lỗi (debug) và thông tin trạng thái.

Windows XP sẽ kết xuất những nội dung của bộ nhớ hệ thống vào một tập tin trên ổ đĩa cứng hoặc vào một trong những cổng COM.

Nguyên nhân xuất hiện lỗi “màn hình xanh”

Lỗi “màn hình xanh” trong Windows không chỉ đơn thuần xử lý bằng cách khởi động lại hệ thống.

Bạn cần phải biết nguyên nhân cụ thể để có thể khắc phục được hoàn toàn lỗi nguy hiểm nhất của hệ thống.

Lỗi BSOD trong Windows XP thường rơi vào một trong năm trường hợp sau:

1. Lỗi phần mềm: Lỗi xuất phát từ các phần mềm ứng dụng hoặc driver của thiết bị trên hệ thống có thể bị lỗi thường xuyên.

2. Lỗi phần cứng khi Windows vận hành: Nếu một thiết bị phần cứng gặp sự cố hoặc bị gỡ bỏ khỏi hệ thống trong khi Windows đang vận hành, hay phần cứng của bạn không hoàn toàn hỗ trợ những hoạt động mà Windows XP yêu cầu, lỗi màn hình xanh về phần cứng sẽ xuất hiện. Thông tin BIOS lỗi thời trên các máy tính cũ có thể cũng là một nguyên nhân.

3. Lỗi cài đặt: Tiến trình cài đặt Windows là khoảng thời gian dễ bị tổn thương của phần cứng và các lỗi ổ cứng. Nếu có một sự cố trên máy tính của bạn về cấu hình phần cứng hay môi trường mà bạn sử dụng để cài đặt Windows XP, lỗi BSOD sẽ xuất hiện.

4. Các lỗi khởi động: Hư hỏng các tập tin hệ thống, phần cứng và lỗi driver đều có thể là nguyên nhân Windows XP hiển thị lỗi BSOD thay vì khởi động như bình thường. Những trường hợp này bắt buộc hệ thống phải được xử lý trước khi có thể khởi động bình thường.

5. Các lỗi bất thường: Đây là nguyên nhân phổ biến nhất của lỗi “màn hình xanh” BSOD. Những “thủ phạm” chính bao gồm: trục trặc trong bộ nhớ hệ thống, nhiệt độ vi xử lý quá nóng, ổ cứng bị lỗi vật lý hoặc sắp hỏng, lỗi phần mềm hay driver.

Việc tìm ra nguyên nhân chính xác trong 5 trường hợp phổ biến vừa nêu đòi hỏi bạn phải có trình độ về kỹ thuật và am hiểu về hệ thống (phần cứng lẫn phần mềm). Một tiếng kêu rột roạt đứt quãng của ổ cứng là điềm báo cho lỗi hư hỏng về đầu từ quay hay thường xuyên treo hoặc khởi động lại máy thì bạn nên kiểm tra lại nhiệt độ trong thùng máy… Những trường hợp này thường là từ kinh nghiệm sử dụng. Do đó, nếu không xử lý được thì tốt nhất bạn vẫn nên nhờ đến các chuyên viên kỹ thuật.

Bạn có thể tham khảo thêm nhiều thông tin rất chi tiết tại website Aumha.org để biết cụ thể lỗi màn hình xanh. Trang web cũng liên kết theo từng trường hợp đến thư viện MSDN của Microsoft rất hữu ích.

 

Tạo mạng LAN qua Internet với Hamachi

Hamachi là một hệ thống mạng riêng ảo (VPN – Virtual Private Network) sử dụng giao thức UDP với “kiến trúc bảo mật mở”.

Mỗi máy tính kết nối vào mạng Hamachi lần đầu sẽ được gán cho một ID; một máy chủ sẽ có nhiệm vụ “dẫn đường” cho các máy khách kết nối được với nhau, tạo thành một mạng LAN ảo qua Internet. Sau khi đã kết nối, các máy khách không cần thêm sự hỗ trợ nào khác từ máy chủ Hamachi nữa.

Mỗi mạng trong Hamachi chính là một mạng LAN ảo, với tên và mật khẩu khác nhau. Sau khi gia nhập vào mạng bạn có thể kết nối, chia sẻ dữ liệu với các máy tính khác cùng ở trong mạng.

Sau khi tải chương trình về từ www.hamachi.cc/download (đã có bản Việt hóa) và cài đặt, người dùng có thể kết nối vào mạng Hamachi với một nick name tùy chọn và được cung cấp một ID. Chọn Launch Hamachi để khởi động chương trình. Bấm vào nút Power On ở phía dưới bên trái cửa sổ.

Nếu là lần đầu tiên sử dụng Hamachi, chương trình sẽ xuất hiện một bảng đề nghị bạn tài khoản mới, sau đó bạn sẽ được cấp 1 IP trên mạng LAN. Để tạo một mạng LAN riêng, trên thanh điều khiển bạn hãy chọn nút Create New Network ở giữa. Đặt tên cho mạng tại phần Network Name và tạo mật khẩu cho mạng tại Network.

Người khác muốn vào mạng LAN mà bạn đã tạo thì sẽ chọn Join Network, đánh tên và pass của bạn vào. Cứ như vậy ai muốn vào mạng thì cứ đánh đúng tên và pass là được.

Sau khi vào mạng thành công, những người trong cùng mạng có thể chia sẻ dữ liệu cho nhau một cách dễ dàng, gửi thông điệp như trong mạng nội bộ.

Nhờ sự đơn giản, tiện lợi cùng khả năng kết nối tốt và độ an toàn cao lại tốn rất ít bộ nhớ, Hamachi đã nhanh chóng thu hút đông đảo người dùng trong việc chia sẻ dữ liệu qua mạng, nhất là để tạo ra các “phòng game” ảo trên Internet. Hiện nay, Hamachi đã rất phổ biến ở VN với vô số room dành riêng cho các game Halflife, Starcraft, Warcraft.

Sự khác biệt giữa Hub, Switch và Router

  
Một router của Cisco

 

Ngày nay, hầu hết các router đều là thiết bị kết hợp nhiều chức năng, và thậm chí nó còn đảm nhận cả chức năng của switch và hub. Đôi khi router, switch và hub được kết hợp trong cùng một thiết bị, và đối với những ai mới làm quen với mạng thì rất dễ nhầm lẫn giữa chức năng của các thiết bị này.

Nào chúng ta hãy bắt đầu với hub và switch bởi cả hai thiết bị này đều có những vai trò tương tự trên mạng. Mỗi thiết bị dều đóng vai trò kết nối trung tâm cho tất cả các thiết bị mạng, và xử lý một dạng dữ liệu được gọi là “frame” (khung). Mỗi khung đều mang theo dữ liệu. Khi khung được tiếp nhận, nó sẽ được khuyếch đại và truyền tới cổng của PC đích. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai thiết bị này là phương pháp phân phối các khung dữ liệu.

Với hub, một khung dữ liệu được truyền đi hoặc được phát tới tất cả các cổng của thiết bị mà không phân biệt các cổng với nhau. Việc chuyển khung dữ liệu tới tất cả các cổng của hub để chắc rằng dữ liệu sẽ được chuyển tới đích cần đến. Tuy nhiên, khả năng này lại tiêu tốn rất nhiều lưu lượng mạng và có thể khiến cho mạng bị chậm đi (đối với các mạng công suất kém).

Ngoài ra, một hub 10/100Mbps phải chia sẻ băng thông với tất cả các cổng của nó. Do vậy khi chỉ có một PC phát đi dữ liệu (broadcast) thì hub vẫn sử dụng băng thông tối đa của mình. Tuy nhiên, nếu nhiều PC cùng phát đi dữ liệu, thì vẫn một lượng băng thông này được sử dụng, và sẽ phải chia nhỏ ra khiến hiệu suất giảm đi.

Trong khi đó, switch lưu lại bản ghi nhớ địa chỉ MAC của tất cả các thiết bị mà nó kết nối tới. Với thông tin này, switch có thể xác định hệ thống nào đang chờ ở cổng nào. Khi nhận được khung dữ liệu, switch sẽ biết đích xác cổng nào cần gửi tới, giúp tăng tối đa thời gian phản ứng của mạng. Và không giống như hub, một switch 10/100Mbps sẽ phân phối đầy đủ tỉ lệ 10/100Mbps cho mỗi cổng thiết bị. Do vậy với switch, không quan tâm số lượng PC phát dữ liệu là bao nhiêu, người dùng vẫn luôn nhận được băng thông tối đa. Đó là lý do tại sao switch được coi là lựa chọn tốt hơn so với hub.

Còn router thì khác hoàn toàn so với hai thiết bị trên. Trong khi hub hoặc switch liên quan tới việc truyền khung dữ liệu thì chức năng chính của router là định tuyến các gói tin trên mạng cho tới khi chúng đến đích cuối cùng. Một trong những đặc tính năng quan trọng của một gói tin là nó không chỉ chứa dữ liệu mà còn chứa địa chỉ đích đến.

Router thường được kết nối với ít nhất hai mạng, thông thường là hai mạng LAN hoặc WAN, hoặc một LAN và mạng của ISP nào đó. Router được đặt tại gateway, nơi kết nối hai hoặc nhiều mạng khác nhau. Nhờ sử dụng các tiêu đề (header) và bảng chuyển tiếp (forwarding table), router có thể quyết định nên sử dụng đường đi nào là tốt nhất để chuyển tiếp các gói tin. Router sử dụng giao thức ICMP để giao tiếp với các router khác và giúp cấu hình tuyến tốt nhất giữa bất cứ hai host nào.

Ngày nay, có rất nhiều các dịch vụ được gắn với các router băng rộng. Thông thường, một router bao gồm 4-8 cổng Ethernet switch (hoặc hub) và một bộ chuyển đổi địa chỉ mạng – NAT (Network Address Translator). Ngoài ra, router thường gồm một máy chủ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol), máy chủ proxy DNS (Domain Name Service), và phần cứng tường lửa để bảo vệ mạng LAN trước các xâm nhập trái phép từ mạng Internet.

Tất cả các router đều có cổng WAN để kết nối với đường DSL hoặc modem cáp – dành cho dịch vụ Internet băng rộng, và switch tích hợp để tạo mạng LAN được dễ dàng hơn. Tính năng này cho phép tất cả các PC trong mạng LAN có thể truy cập Internet và sử dụng các dịch vụ chia sẻ file và máy in.

Một số router chỉ có một cổng WAN và một cổng LAN, được thiết kế cho việc kết nối một hub/switch LAN hiện hành với mạng WAN. Các switch và hub Ethernet có thể kết nối với một router để mở rộng mạng LAN. Tuỳ thuộc vào khả năng (nhiều cổng) của mỗi router, switch hoặc hub, mà kết nối giữa các router, switche/hub có thể cần tới cáp nối thẳng hoặc nối vòng. Một số router thậm chí có cả cổng USB và nhiều điểm truy cập không dây tích hợp.

Một số router cao cấp hoặc dành cho doanh nghiệp còn được tích hợp cổng serial – giúp kết nối với modem quay số ngoài, rất hữu ích trong trường hợp dự phòng đường kết nối băng rộng chính trục trặc, và tích hợp máy chủ máy in mạng LAN và cổng máy in.

Ngoài tính năng bảo vệ được NAT cung cấp, rất nhiều router còn có phần cứng tường lửa tích hợp sẵn, có thể cấu hình theo yêu cầu của người dùng. Tường lửa này có thể cấu hình từ mức đơn giản tới phức tạp. Ngoài những khả năng thường thấy trên các router hiện đại, tường lửa còn cho phép cấu hình cổng TCP/UDP dành cho game, dịch vụ chat, và nhiều tính năng khác.

Và như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn là: hub được gắn cùng với một thành phần mạng Ethernet; switch có thể kết nối hiệu quả nhiều thành phần Ethernet với nhau; và router có thể đảm nhận tất cả các chức năng này, cộng thêm việc định tuyến các gói TCP/IP giữa các mạng LAN hoặc WAN, và tất nhiên còn nhiều chức năng khác nữa.

vnmedia

Một số kiến thức cơ bản về FAT32 và NTFS


Trước khi cài đặt, Windows XP luôn đòi hỏi format lại đĩa cứng theo định dạng FAT32 hoặc NTFS. Sử dụng các chương trình format đời mới hiện nay nó cũng đưa ra lựa chọn giữa FAT32 và NTFS. Vậy hệ thống FAT32 và NTFS trên đĩa cứng là gì, tác dụng của nó thế nào, nên chọn loại nào cho máy tính?

Khái niệm về FAT và NTFS

FAT16: Với HĐH MS-DOS, hệ thống tập tin FAT (FAT16 – để phân biệt với FAT32) được công bố vào năm 1981 đưa ra một cách thức mới về việc tổ chức và quản lý tập tin trên đĩa cứng, đĩa mềm. Tuy nhiên, khi dung lượng đĩa cứng ngày càng tăng nhanh, FAT16 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Với không gian địa chỉ 16 bit, FAT16 chỉ hỗ trợ đến 65.536 liên cung (clusters) trên một partition, gây ra sự lãng phí dung lượng đáng kể (đến 50% dung lượng đối với những ổ đĩa cứng trên 2 GB).

FAT32: được giới thiệu trong phiên bản Windows 95 Service Pack 2 (OSR 2), được xem là phiên bản mở rộng của FAT16. Do sử dụng không gian địa chỉ 32 bit nên FAT32 hỗ trợ nhiều cluster trên một partition hơn, do vậy không gian đĩa cứng được tận dụng nhiều hơn. Ngoài ra với khả năng hỗ trợ kích thước của phân vùng từ 2GB lên 2TB và chiều dài tối đa của tên tập tin được mở rộng đến 255 ký tự đã làm cho FAT16 nhanh chóng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhược điểm của FAT32 là tính bảo mật và khả năng chịu lỗi (Fault Tolerance) không cao.

NTFS (New Technology File System): được giới thiệu cùng với phiên bản Windows NT đầu tiên (phiên bản này cũng hỗ trợ FAT32). Với không gian địa chỉ 64 bit, khả năng thay đổi kích thước của cluster độc lập với dung lượng đĩa cứng, NTFS hầu như đã loại trừ được những hạn chế về số cluster, kích thước tối đa của tập tin trên một phân vùng đĩa cứng.

NTFS sử dụng bảng quản lý tập tin MFT (Master File Table) thay cho bảng FAT quen thuộc nhằm tăng cường khả năng lưu trữ, tính bảo mật cho tập tin và thư mục, khả năng mã hóa dữ liệu đến từng tập tin. Ngoài ra, NTFS có khả năng chịu lỗi cao, cho phép người dùng đóng một ứng dụng “chết” (not responding) mà không làm ảnh hưởng đến những ứng dụng khác. Tuy nhiên, NTFS lại không thích hợp với những ổ đĩa có dung lượng thấp (dưới 400 MB) và không sử dụng được trên đĩa mềm.

So sánh giữa FAT32 và NTFS

NTFS là hệ thống file tiên tiến hơn rất nhiều so với FAT32. Nó có đầy đủ các đặc tính của hệ thống file hiện đại và FAT32 không hề có. Bạn nên dùng NTFS để thay thế cho FAT32 vì các lý do sau:

– FAT32 không hỗ trợ các tính năng bảo mật như phần quyền quản lý, mã hoá.. như  NTFS. Vấn đề này đặc biệt hiệu quả đối với Windows. Với NTFS, bạn có thể không cần sử dụng các tiện ích mã hoá hay đặt mật khẩu giấu thư mục v.v, vì đây là đặc tính đã có sẵn của NTFS, chỉ cần bạn biết khai thác. Việc xài các tiện ích không nằm sẵn trong hệ điều hành để thao tác trực tiếp với đĩa vẫn có ít nhiều rủi ro.

– FAT32 có khả năng phục hồi và chịu lỗi rất kém so với NTFS. Có một số ý kiến cho rằng NTFS không tương thích nhiều với các chương trình kiểm tra đĩa hay sửa đĩa mà người dùng đã quen thuộc từ lâu, như vậy sẽ vô cùng bất tiên trong trường hợp đĩa bị hư sector. Nên yên tâm vì NTFS là hệ thống file có khả năng ghi lại được các hoạt động mà hệ điều hành đã và đang thao tác trên dữ liệu, nó có khả năng xác định được ngay những file bị sự cố mà không cần phải quét lại toàn bộ hệ thống file, giúp quá trình phục hồi dữ liệu trở nên tin cậy và nhanh chóng hơn. Đây là ưu điểm mà FAT 32 hoàn toàn không có.


Khi mà mất điện đột ngột thì  Windows 98, 2000, XP… đều phải quét lại đĩa khi khởi động lại nếu đĩa đó được format bằng chuẩn FAT32. Trong khi format đĩa cứng bằng NTFS thì lại hoàn toàn không cần quét đĩa lại, bởi vì hệ thống dùng NTFS có được những thông tin về tính toàn vẹn dữ liệu ghi trên đĩa và nó mất rất ít thời gian để biết được về mặt logic đĩa của mình có lỗi hay không và nếu có thì hệ thống cũng tự phục hồi một cách cực kỳ đơn giản và nhanh chóng. Với FAT32 thì nó phải rà quét toàn bộ lâu hơn nhiều. Một hệ thống Windows 2000, XP sẽ ổn định hơn nhiều nếu cài trên phân vùng được format bằng NTFS. Ngoài ra NTFS còn được trang bị công cụ kiểm tra và sửa đĩa rất tốt của Microsoft.

 – NTFS có khả năng truy cập và xử lý file nén ngon lành hệt như truy cập vào các file chưa nén, điều này không chỉ tiết kiệm được đĩa cứng mà còn gia tăng được tuổi thọ của đĩa cứng.

– Nhiều người phàn nàn rằng không thể truy cập vào các đĩa cứng được format bằng NTFS khi đang ở DOS, Windows 98 hoặc WinME… Thực ra thì DOS, Windows 98 và Windows ME đã quá cũ và các phần mềm còn hữu dụng của chúng cũng không còn bao nhiêu.


– NTFS đặt được quota sử dụng cho người dùng, vô cùng tiện dụng cho các hệ thống máy ở công ty. Đặc biệt tiện dụng khi “âm thầm” cấm được con cái sao chép những phim ảnh độc hại vào các thư mục “bí mật” của chúng trong đĩa cứng.

Ngoài ra, NTFS còn có rất nhiều tiện ích tuyệt chiêu chuyên sâu khác cho giới người dùng cao cấp khác như “mount partition”, tạo “hard link” tới một file, hỗ trợ dùng RAID v.v

– Nếu bạn đã thực sự quyết định chọn NTFS làm “duyên giai ngẫu” thì bạn có thể từ bỏ hẳn FAT 32 kể từ nay. Hiện có rất nhiều tiện ích chuyển đổi từ FAT 32 sang NTFS tùy bạn lựa chọn. Tiện hơn cả là dùng bộ tiện ích có sẵn trong các đĩa CD khởi động bằng Hirenboot đang rất phổ biến hiện nay.

Tuy thế, FAT32 vẫn còn tỏ ra hữu dụng trên các máy tính cấu hình quá yếu ớt, chỉ có thể chạy được Windows 98. FAT16 và FAT32 vẫn được dùng để định dạng cho các loại thẻ nhớ, vì các thiết bị chấp nhận thẻ nhớ như máy ảnh số, máy nghe nhạc vẫn chưa thấy loại nào tương thích với NTFS cả. FAT16 luôn là lựa chọn hàng đầu khi bạn muốn copy dữ liệu của mình từ một máy tính chạy Windows sang máy chạy hệ điều hành khác như Mac chẳng hạn. Hầu hết các máy Mac hiện nay đều không thể nhận dạng các thẻ nhớ USB được định dạng bằng FAT 32.

Trung Tâm 911

Theo TTO

Partition Magic v8
“Bửu bối” của những người thích…”vọc”

Partition Magic (PM) là một phần mềm không thể thiếu trong “túi càn khôn” đối với những người làm công tác “bảo trì” máy tính hay các “vọc sỉ” tại… gia.

Đây là 1 phần mềm chuyên dùng để phân chia và tái… phân chia ổ cứng mà không làm mất dữ liệu đã có trong ổ cứng (dỉ nhiên là theo lý thuyết). Phần mềm này có thể làm việc với “gần như” mọi Hệ điều hành hiện có và chuyển đổi các dạng thức phân vùng ổ cứng một cách dể dàng. Nếu phân tích tỉ mỉ mọi tính năng của phần mềm này chắc phải viết thành 1 cuốn sách dày, ở đây e-CHÍP chỉ xin đề cập đến những tính năng căn bản và quan trọng vì giới hạn của 1 tờ báo, các bạn có thể tự ngiên cứu thêm để làm “chủ” phần mềm này. Chú ý: PM sẽ có 1 phiên bản cho Dos bao gồm tất cả các file nằm trong thư mục Program Files\PowerQuest\PartitionMagic 8.0\Dos. Bạn có thể chép các file nầy ra đĩa mềm hay đĩa CD để chạy độc lập. Cách sử dụng phiên bản cho Dos và cho Win hoàn toàn giống nhau.

1/ Tạo phân vùng (partition)

Trên một ổ đĩa bạn có thể tạo 4 phân vùng Primary hay 3 phân vùng Primary và 1 phân vùng Extanded. Trong phân vùng Extanded bạn có thể tạo bao nhiêu phân vùng con (logic) cũng được.

Cách làm: Chọn ổ đĩa -> chọn Partition/Create ->  chọn Logical Partition hay Primary Partition -> chọn Partition Type -> đặt tên (Label) -> chỉ định kích thước (Size) -> chọn vị trí đầu hay cuối đĩa (Beginning of unallocated space hay End of unallocated space) -> OK

2/ “Nhân bản” (Copy) phân vùng

Bạn có thể tạo phân vùng mới là bản sao của phân vùng đang có. Chức năng này được dùng khi: Di chuyển nhanh nội dung của ổ đĩa này sang ổ đĩa khác. Sao lưu dự phòng. Thay đổi vị trí phân vùng…

Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partition/Copy -> chọn vị trí -> OK.

3/ Chuyển đổi (Convert) phân vùng

– FAT sang FAT32 (Windows 9x/Me/2000/XP). – FAT sang NTFS (Windows NT/2000/XP).

– FAT32 sang FAT. – FAT32 sang NTFS (Windows 2000/XP).

– NTFS sang FAT hay FAT32. Chú ý: Không thể chuyển đổi được nếu phân vùng NTFS có sử dụng những tính năng đặt biệt như: compressed, sparse, reparse points, encrypted hay có lỗi đĩa như: lost clusters, cross-linked…

– Primary thành Logical và ngược lại.

Cách làm: Chọn phân vùng -> bấm Partition/Convert -> chọn dạng thức cần chuyển.

5/ Sát nhập (Merge) phân vùng

Bạn có thể sáát nhập 2 phân vùng FAT, FAT32 hay NTFS để giảm bớt số lượng phân vùng đang có mà không làm mất dữ liệu. Bạn cũng có thể sát nhập phân vùng logic vào primary. Chú ý: Giửa 2 phân vùng cần sát nhập không được có phân vùng thứ ba. Bạn không thể sát nhập phân vùng FAT/FAT32 với phân vùng NTFS.

Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partition/Merge để mở hộp thoại Merge Adiacent Partitions -> chọn phân vùng muốn sát nhập trong phần Merge Option. Nội dung của phân vùng nầy sẽ trở thành thư mục (folder) trong phân vùng kia -> đÐặt tên cho thư mục lưu trữ nội dung của phân vùng bị mất khi sát nhập trong phần Merge Folder -> chọn kiểu bảng FAT cho phân vùng sau khi sát nhập -> OK.

6/ Chia tách (Split) phân vùng

Bạn có thể chia một phân vùng FAT hay FAT32 thành 2 phân vùng có cùng định dạng. Bạn có thể chọn dữ liệu từ phân vùng “gốc” để đưa sang phân vùng mới, chọn kích thước, vị trí cũng như đặt tên cho phân vùng mới.

Cách làm: Chọn phân vùng -> chọn Partition/Split -> chọn bảng Data -> chọn file/thư mục cần di chuyển -> đặt tên cho phân vùng mới -> chọn dạng thức -> chọn bảng Size -> chỉ định kích thước -> chọn OK.

7/ Thay đổi kích thước/Di chuyển (Resize/Move) phân vùng

Bạn có thể thay đổi kích thước hay di chuyển phân vùng với 1 số chú ý sau:

– Không thể thu nhỏ phân vùng nếu trong phân vùng không còn không gian trống.

– Không thể mở rộng phân vùng nếu không có không gian trống ở kề bên phân vùng.

– Trong thời gian điều chỉnh kích thước hay di chuyển phân vùng NTFS, nếu có trục trặc phân vùng này có thể bị hư hỏng.

Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partitiopn/Resize/Move -> dùng chuột để điều chỉnh khoảng trống ở đÐầu đĩa/cuối đĩa qua thanh công cụ Partition Map (hay gõ số dung lượng vào các ô kích thước). Di chuyển phân vùng qua vị trí khác bằng cách đưa chuột vào giửa rồi bấm, giử và kéo chuột đi.

8/ “Giấu” (Hide) phân vùng

Bạn có thể giấu phân vùng đĩa hay cho “hiện” (unhide) nếu bạn… thích. Chú ý: Nếu bạn có nhiều phân vùng Primary, chỉ phân vùng khởi động “hiện” còn các phân vùng khác sẽ tự động “ẩn”.

Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partition/Advanced/Hide Partition hay Unhide Partition -> OK.

9/ Phục hồi phân vùng bị xoá (Undelete)

Bạn có thể phục hồi phân vùng FAT, FAT32, NTFS và Linux. Chú ý: Bạn chỉ phục hồi khi không gian của phân vùng bị xoá chưa được sử dụng. Bạn chỉ có thể phục hồi lần lượt nếu có nhiều phân vùng bị xoá vì chương trình chỉ hiển thị danh sách từng phân vùng mỗi lần chạy. Bạn không thể phục hồi nếu phân vùng bi xoá có lỗi ở hệ thống file. Bạn không thể phục hồi phân vùng primary nếu ổ đĩa có đến 4 phân vùng primary.

Cách làm: Trên disk map hay danh sách phân vùng, chọn phần không gian trống (unallocated space) -> chọn Partition/Undelete -> chọn phân vùng cần phục hồi -> OK.

10/ Cài Hệ điều hành mới

Partition Magic còn có chức năng giúp bạn cài đặt thêm Hệ điều hành mới để chạy song song với Hệ điều hành đang có. Chương trình sẽ giúp bạn tính toán dung lượng sao cho phù hợp với HĐH và tạo phân vùng Primary mới từ không gian lấy ở các phân vùng đang có. Chú ý: Bạn phải tự cài đặt HĐH lên phân vùng mới và cài đặt trình quản lý Boot nếu cần thiết.

11/ Thay đổi thông tin ổ đĩa cho phần mềm

Trong bộ PM8 có “khuyến mại” phần mềm Drive Mapperv có chức năng tự động thay đổi tên ổ đĩa, trong các file lưu trữ thông tin về địa chỉ của các phần mềm chạy trong Windows. Thí dụ: Bạn có nhiều phần mềm cài trên ổ đĩa D, nay vì gắn thêm 1 ổ cứng nên ổ D bị đổi thành F, tất cả sẽ không còn chạy được do sai địa chỉ. Phần mềm nầy sẽ tự động thay đổi tất cả địa chỉ lưu trữ từ D (cũ) thành F (mới) để các phần mềm nầy tiếp tục chạy.

Chức năng nầy đặc biệt có ích khi bạn chia lại (thêm, bớt, di chuyển…) phân vùng trên ổ cứng, thay đổi số lượng ổ cứng trong máy mà không muốn cài đặt lại các phần mềm.

Khi chạy chương trình, bạn có chọn lựa:

– Typical Operation: Cho phép bạn thay đổi ký tự ổ đĩa theo ý muốn.

– Merge Operation: Cho phép bạn thay đổi ký tự ổ đĩa bằng đường dẫn đến 1 thư mục.

– Split Operation: Cho phép bạn thay đổi ký tự ổ đĩa bằng đường dẫn đến 1 file hay thư mục.


 
%d bloggers like this: