Kiến thức

Tạo Web Service với Visual Studio 2005 (đã cập nhật)

Có thể hiểu một cách đơn giản, XML Web Service là một dịch vụ cung cấp dữ liệu qua Web sử dụng định dạng XML để trao đổi dữ liệu.

Khác với Web Page, mỗi Web Service sẽ được cung cấp thông qua một URL. Thông qua URL này, ứng dụng client có thể thực hiện các phương thức Web (Web Method) được cung cấp bởi Web Service. Các phương thức này có thể là các phương thức trả về dữ liệu hoặc các phương thức cập nhật dữ liệu. Định dạng dữ liệu trao đổi giữa Web Server và client là định dạng XML.

Với Web Service, chúng ta có thể tạo ra các ứng dụng quản lý nhiều client và kết nối thông qua Internet, trong đó dữ liệu và các phương thức truy cập, xử lý dữ liệu được cài đặt dưới dạng Web Service và đặt tại Web Server. Giao diện hiển thị dữ liệu, nhập liệu, in ấn… sẽ được cài đặt dưới dạng các ứng dụng Windows và chạy ở các máy trạm. Khi muốn thao tác với dữ liệu, các ứng dụng này sẽ kết nối với Web Server để lấy dữ liệu, và có thể cập nhật dữ liệu lên Web Server.

Sử dụng Visual Studio 2005, có thể dễ dàng tạo ra một Web Service mới hoặc tạo ra Web Service tích hợp vào một Website đã có. Một điểm mạnh nữa của Visual Studio 2005, đó là cơ chế bảo mật, phân quyền, quản lý tài khoản truy cập đã được tích hợp sẵn.

Trong bài này, tôi đưa ra một Web Service đơn giản, trong đó lưu trữ các địa chỉ trang Web (Bookmarks) và một Client cho phép hiển thị và thêm mới/sửa đổi các địa chỉ. Tuỳ tài khoản dùng để đăng nhập, mà có thể chỉ hiển thị hoặc có thể sửa đổi thông tin. Các ứng dụng này viết trên ngôn ngữ C#.

Để chạy thử ứng dụng trên máy nội tại, cần tạo một Solution trắng, thêm WebSite Bookmark và ứng dụng BookmarkViewer vào solution đó và sửa lại Web Reference của ứng dụng BookmarkViewer.

Để chạy thử ứng dụng qua Internet, cần phải đưa Web Service lên một ASP.NET Web Server nào đó, và sửa lại Web Reference của ứng dụng BookmarkViewer để trỏ tới địa chỉ Web Service mới.

Để đăng nhập vào Web Service Bookmark từ BookmarkViewer, sử dụng các tài khoản sau:
Chỉ xem: USN: viewer, PWD: viewer12#
Xem, sửa: USN: editor, PWD: editor12#

Download:

Ghi chú: Có thể đăng ký miễn phí 30 ngày để thử nghiệm Web Server với ASP.NET 2.0 + SQL Server 2005 Express tại trang http://www.vwdhosting.net

Thiết lập Culture cho ứng dụng

 

Đối với người lập trình ứng dụng quản lý, một trong các vấn đề thường gặp phải đó là sự khác biệt giữa định dạng ngày tháng và số ngầm định (en-US) và định dạng của Việt Nam (vi-VN). Sự khác biệt này thể hiện ở một số điểm sau:

Định dạng ngầm định (en-US):
Ngày ngắn: 1/12/2007.
Ngày dài: Friday, January 12, 2007
Số: 12,235.56789

Định dạng Việt Nam (vi-VN):
Ngày ngắn: 12/01/2007
Ngày dài: 12 Tháng Giêng 2007
Số: 12.345,6789

Trong các ứng dụng cho Việt Nam, định dạng ngày thường được sử dụng theo kiểu dd/MM/yyyy. Riêng với số, nếu sử dụng dấu phẩy (,) để phân cách phần thập phân thì có thể gây khó khăn khi nhập liệu vì khu phím số của bàn phím không có dấu phẩy. Vì thế thông thường định dạng số kiểu en-US vẫn được sử dụng trong chương trình, chỉ khi in ấn các báo cáo mới cần chuyển sang kiểu vi-VN.

Đối với các ứng dụng lập trình bằng VB, VC, định dạng ngày tháng và số thường theo thiết lập của Windows. Để thay đổi định dạng cho chương trình, phải thiết lập lại trong Control Panel của Windows hoặc dùng các hàm API để đặt lại. Việc này làm ảnh hưởng đến toàn bộ các chương trình khác.

Nền tảng .NET cho phép thiết lập định dạng số, ngày tháng nói riêng hoặc toàn bộ culture nói chung cho riêng ứng dụng mà không làm ảnh hưởng tới Windows cũng như các ứng dụng khác. Việc đặt lại culture cho ứng dụng sẽ có tác dụng đối với cả việc nhập liệu cũng như hiển thị dữ liệu.

Chương trình mẫu đi kèm giới thiệu cách đặt Culture cho ứng dụng theo kiểu en-US, vi-VN và Custom (Định dạng số kiểu en-US, định dạng ngày tháng kiểu vi-VN).

Download:

Tạo giao diện chuyên nghiệp với SandDock

 

Hiện nay, các ứng dụng thường có giao diện theo hướng dẫn của Microsoft, với một số đặc điểm sau:
– Các chức năng trên Menu, ToolBar tuỳ biến theo tài liệu được mở.
– Các tài liệu được hiển thị dưới dạng tab thay cho dạng MDI truyền thống.
– Các chức năng khác, như ToolBox hay Explorer View được đặt trên các DockableWindow, là một dạng cửa sổ đặc biệt có thể nổi trên cửa sổ chính, dính vào một cạnh của cửa sổ chính hoặc Auto Hide.

Trong bài này, tôi giới thiệu một chương trình mẫu, với một số đặc điểm giao diện ở trên. Các bạn có thể sửa đổi chương trình mẫu và cài đặt các chức năng để được chương trình của riêng mình.

Download:


 
%d bloggers like this: